Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Nghị định
này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục về
chương trình giáo dục, sách giáo khoa và giáo trình; thi kiểm tra và văn bằng,
chứng chỉ trong hệ thống giáo dục quốc dân; mạng lưới, tổ chức, hoạt động, nhiệm
vụ, quyền hạn của nhà trường và cơ sở giáo dục khác; chính sách đối với nhà
giáo; chính sách đối với người học; kiểm định chất lượng giáo dục; bảo đảm các
điều kiện tài chính cho giáo dục.
2. Nghị định
này áp dụng cho nhà trường, cơ sở giáo dục khác trong hệ thống giáo dục quốc
dân, các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục.
Trường của
cơ quan nhà nước, của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, của lực
lượng vũ trang nhân dân khi thực hiện chương trình giáo dục của hệ thống giáo
dục quốc dân phải tuân theo các quy định của Nghị định này.
Điều 2.
Phổ cập giáo dục
1. Phổ cập
giáo dục là quá trình tổ chức để mọi công dân đều được học tập và đạt tới một
trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của Nhà nước. Giáo dục tiểu học và giáo
dục trung học cơ sở là các cấp học phổ cập.
2. Ủy ban
nhân dân các cấp có trách nhiệm:
a) Bảo đảm
để mọi trẻ em 6 tuổi đều được vào học lớp một; thực hiện phổ cập giáo dục tiểu
học đúng độ tuổi;
b) Củng cố,
duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ;
c) Có kế
hoạch và giải pháp thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
3. Đối với
các địa phương (xã, huyện, tỉnh) đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục
trung học cơ sở, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm củng cố, duy trì kết quả
phổ cập giáo dục trung học cơ sở; căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương để xây
dựng kế hoạch thu hút phần lớn học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở theo học
trung học phổ thông, trung cấp.
4. Hằng năm,
cơ sở giáo dục và đơn vị hành chính (gọi chung là đơn vị) đã được công nhận đạt
chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở phải tiến hành
tự kiểm tra theo tiêu chuẩn quy định về phổ cập giáo dục, báo cáo bằng văn bản
với cấp có thẩm quyền công nhận đạt chuẩn.
5. Bộ Giáo
dục và Đào tạo có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện, giám sát kiểm tra, tổng hợp
kết quả thực hiện phổ cập giáo dục, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Đơn vị hai
năm liền không duy trì được kết quả phổ cập giáo dục thì bị xoá tên khỏi danh
sách các đơn vị đạt chuẩn. Việc công nhận lại, các đơn vị này phải được xem xét
như đối với đơn vị được xét công nhận lần đầu.
6. Gia đình
có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy
định được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập.
Điều 3.
Hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục
1. Hướng
nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà
trường để giúp học sinh có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề
nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng
lao động của xã hội.
2. Phân
luồng trong giáo dục là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ sở thực
hiện hướng nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để học sinh tốt nghiệp trung học
cơ sở, trung học phổ thông tiếp tục học ở cấp học hoặc trình độ cao hơn, học
trung cấp, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực, điều kiện cụ thể của cá
nhân và nhu cầu xã hội; góp phần điều tiết cơ cấu ngành nghề của lực lượng lao
động phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước.
3. Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo xây dựng chương trình giáo dục trung học cơ sở,
trung học phổ thông theo mục tiêu quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 27 của
Luật Giáo dục, chú trọng đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục, cụ thể hoá
chuẩn kiến thức, kỹ năng giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp. Ở cấp trung
học cơ sở, nội dung hướng nghiệp được lồng ghép vào các môn học, đặc biệt là môn
công nghệ. Ở cấp trung học phổ thông, nội dung hướng nghiệp được bố trí thành
môn học.
4. Bộ Kế
hoạch và Đầu tư hướng dẫn các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh dự báo xác
định cơ cấu nhân lực theo trình độ và ngành nghề trong quy hoạch, kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng vùng và địa phương.
5. Ủy ban
nhân dân các cấp có trách nhiệm dự báo và công bố công khai về nhu cầu sử dụng
nhân lực trong kế hoạch hằng năm, năm năm của địa phương; xây dựng chính sách cụ
thể nhằm gắn đào tạo với sử dụng, chỉ đạo cơ quan quản lý giáo dục ở địa phương
thực hiện có chất lượng và hiệu quả phân luồng trong giáo dục.
6. Các
trường đại học, cao đẳng, trung cấp hàng năm công bố công khai năng lực, ngành
nghề đào tạo, có biện pháp cụ thể sử dụng kết quả hướng nghiệp ở phổ thông trong
quá trình tuyển sinh và tổ chức đào tạo.
7. Cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế có trách
nhiệm tạo cơ hội cho học sinh phổ thông làm quen với môi trường hoạt động của
mình.
Điều 4.
Liên thông trong giáo dục
1. Liên
thông trong giáo dục là biện pháp giúp người học có thể sử dụng kết quả học tập
đã có để học tiếp ở các cấp học, trình độ cao hơn cùng ngành nghề hoặc khi
chuyển sang ngành đào tạo, hình thức giáo dục và trình độ đào tạo khác phù hợp
với yêu cầu nội dung tương ứng.
2. Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo theo thẩm
quyền, chỉ đạo xây dựng chương trình dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp liên
thông với các chương trình giáo dục phổ thông và các chương trình trình đào tạo
khác, tạo điều kiện cho người học kế thừa được các kết quả học tập ở giáo dục
phổ thông.
3. Bộ Giáo
dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy
định về việc công nhận giá trị chuyển đổi kết quả học tập.
4. Hiệu
trưởng các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp căn cứ vào các quy định
nêu ở khoản 3 Điều này và chương trình khung, đối chiếu xác định sự phù hợp về
chương trình và rà soát điều kiện về cơ sở vật chất đội ngũ giảng viên quyết
định công nhận giá trị chuyển đổi kết quả học tập trong từng trường hợp cụ thể.
5. Người học
có quyền đăng ký học tập các chương trình liên thông theo quy định của Nhà nước
và của cơ sở giáo dục.
Điều 5.
Dạy và học ngoại ngữ, dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong nhà trường và cơ sở
giáo dục khác
1. Việc dạy
và học ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác phải bảo đảm các yêu
cầu sau đây:
a) Đối với
giáo dục phổ thông: tổ chức dạy và học ít nhất một ngoại ngữ phổ biến trong giao
dịch quốc tế; học sinh được học liên tục từ lớp 3 đến lớp 12. Khuyến khích học
sinh học thêm các ngoại ngữ khác;
b) Đối với
giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học: tổ chức học ngoại ngữ phù hợp với yêu
cầu chuyên môn cho học viên, học sinh, sinh viên.
2. Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng kế hoạch tổng thể quy định điều kiện và tổ chức
thực hiện dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác, bảo đảm thực
hiện các yêu cầu quy định tại khoản 1 của Điều này.
3. Việc dạy
và học bằng tiếng nước ngoài theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Chương II
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC, SÁCH GIÁO KHOA VÀ GIÁO TRÌNH
Điều 6.
Chương trình giáo dục
1. Chương
trình giáo dục và thẩm quyền ban hành chương trình giáo dục được quy định tại
các Điều 6, 24, 29, 35, 41, 45 và 100 của Luật Giáo dục.
2. Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục mầm non và chương trình
giáo dục ở các cấp học của giáo dục phổ thông; quy định cụ thể về chương trình
giáo dục thường xuyên, chương trình giáo dục cho trường, lớp dành cho người tàn
tật, khuyết tật; ban hành chương trình khung các ngành đối với giáo dục đại học,
cao đẳng; chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ liên quan
để ban hành chương trình khung các ngành đối với trung cấp chuyên nghiệp.
3. Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ liên quan quy định chương trình khung cho từng trình độ nghề được đào
tạo.
Bộ trưởng Bộ
Văn hoá - Thông tin phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ
thể về chương trình giáo dục, thời gian đào tạo của các trường, lớp năng khiếu
nghệ thuật.
Bộ trưởng,
Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục Thể thao phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
quy định cụ thể về chương trình giáo dục, thời gian đào tạo của các trường, lớp
năng khiếu thể dục thể thao.
Bộ trưởng Bộ
Công an phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội quy định chương trình giáo dục cho trường giáo dưỡng.
4. Căn cứ
vào chương trình khung đã được quy định và nhiệm vụ đào tạo của nhà trường, hiệu
trưởng cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học xây dựng và ban hành
chương trình giáo dục của nhà trường.
5. Cấp có
thẩm quyền ban hành chương trình giáo dục nào thì có thẩm quyền quyết định thay
đổi về chương trình giáo dục đó.
Điều 7.
Chuẩn kiến thức, kỹ năng
1. Chuẩn
kiến thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục là mức tối thiểu về kiến thức, kỹ
năng mà người học phải đạt được sau khi kết thúc một chương trình giáo dục.
Chuẩn kiến
thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục là căn cứ chủ yếu để biên soạn sách
giáo khoa, giáo trình, đánh giá kết quả học tập của người học.
2. Chuẩn
kiến thức, kỹ năng phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Thể hiện
mục tiêu giáo dục đối với từng môn học, lớp, cấp học, trình độ đào tạo;
b) Thể hiện
kiến thức, kỹ năng mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn và hội nhập quốc tế;
c) Được cụ
thể hoá thành các tiêu chí phù hợp, làm cơ sở cho việc xây dựng, thực hiện, theo
dõi, giám sát và đánh giá khách quan chương trình giáo dục.
Điều 8.
Sách giáo khoa
Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo quy định việc biên soạn sách giáo khoa; việc chọn sách để
dạy thí điểm, tổ chức dạy thí điểm, lấy ý kiến đóng góp của nhà giáo, nhà khoa
học, nhà quản lý giáo dục, hội nghề nghiệp, học sinh; việc thẩm định, duyệt và
quyết định chọn sách để sử dụng làm sách giáo khoa, bao gồm cả sách giáo khoa
bằng chữ nổi, bằng tiếng dân tộc và sách giáo khoa cho học sinh trường chuyên.
Điều 9.
Giáo trình
1. Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo thẩm
quyền, quy định các môn học cần sử dụng giáo trình chung và tổ chức biên soạn,
duyệt các giáo trình này.
Hiệu trưởng
trường trung cấp, trường cao đẳng, trường đại học tổ chức biên soạn và duyệt
giáo trình các môn học; chọn giáo trình tiên tiến, hiện đại trong và ngoài nước
phù hợp với mục tiêu giáo dục, phù hợp với chương trình khung và nhiệm vụ đào
tạo của trường trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định giáo trình do Hiệu
trưởng thành lập, bảo đảm có đủ giáo trình chính thức phục vụ giảng dạy và học
tập.
2. Nhà giáo
tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học cùng với việc sử dụng
giáo trình chính thức để giảng dạy được chọn tài liệu để giảng dạy và mở rộng
kiến thức cho người học trên cơ sở bảo đảm yêu cầu của chương trình giáo dục.
Điều 10.
Hội đồng thẩm định chương trình giáo dục, sách giáo khoa, giáo trình
1. Hội đồng
thẩm định chương trình giáo dục, sách giáo khoa, giáo trình là tổ chức giúp
người có thẩm quyền duyệt chương trình, sách giáo khoa, giáo trình.
Hội đồng
thẩm định chương trình giáo dục, sách giáo khoa, giáo trình bao gồm các nhà
giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ khoa học, kỹ thuật có kinh nghiệm, uy tín
về giáo dục và đại diện các tổ chức có liên quan. Hội đồng thẩm định chương
trình giáo dục và sách giáo khoa của giáo dục phổ thông phải có ít nhất một phần
ba tổng số thành viên là các nhà giáo đang giảng dạy ở cấp học tương ứng.
2. Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động, tiêu
chuẩn, số lượng và cơ cấu thành viên của Hội đồng quốc gia thẩm định chương
trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa, Hội đồng thẩm định ngành về chương
trình trung cấp chuyên nghiệp, Hội đồng thẩm định ngành về chương trình giáo dục
đại học; quy định việc thẩm định chương trình giáo dục và giáo trình ở các
trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học do Hiệu trưởng các trường tổ
chức thẩm định.
3. Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức
hoạt động, tiêu chuẩn, số lượng và cơ cấu thành viên của Hội đồng thẩm định
ngành về chương trình dạy nghề; quy định việc thẩm định chương trình, giáo trình
dạy nghề ở các cơ sở dạy nghề do người đứng đầu cơ sở dạy nghề tổ chức thẩm
định.
4. Hội đồng
thẩm định và các thành viên Hội đồng phải chịu trách nhiệm về nội dung và chất
lượng thẩm định.
Chương III
THI KIỂM TRA VÀ VĂN BẰNG, CHỨNG CHỈ
TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
Điều 11.
Thi kiểm tra, tuyển sinh, công nhận tốt nghiệp
1. Thi kiểm
tra trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm thi, kiểm tra kết thúc môn học, thi tốt
nghiệp, thi tuyển sinh, thi chọn học sinh giỏi.
2. Việc đánh
giá kết quả học tập, công nhận người học hoàn thành chương trình môn học, cấp
học hoặc trình độ đào tạo bằng hình thức kiểm tra, thi kết thúc môn học, thi tốt
nghiệp hoặc xét tốt nghiệp; kết quả kiểm tra, thi là một căn cứ chủ yếu giúp nhà
trường và các cấp quản lý giáo dục đánh giá chất lượng giáo dục.
Việc công
nhận tốt nghiệp một cấp học hoặc một trình độ đào tạo được thực hiện bằng: xét
tốt nghiệp đối với trung học cơ sở; thi tốt nghiệp đối với trung học phổ thông,
trung cấp, cao đẳng; thi tốt nghiệp hoặc bảo vệ đồ án, khoá luận tốt nghiệp đối
với trình độ đại học; bảo vệ luận văn đối với trình độ thạc sĩ; bảo vệ luận án
đối với trình độ tiến sĩ.
Trường hợp
đào tạo theo hệ thống tín chỉ thì việc công nhận hoàn thành chương trình môn
học, việc công nhận tốt nghiệp đối với người học được thực hiện theo Quy chế đào
tạo theo tín chỉ do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
3. Thi
tuyển, xét tuyển trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đánh giá khả năng học tập
của người dự tuyển để chọn người học. Việc tuyển sinh được thực hiện bằng hình
thức thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp giữa thi tuyển và xét tuyển.
4. Thi chọn
học sinh giỏi nhằm khuyến khích việc học tập của người học, góp phần phát hiện
nhân tài. Học sinh đạt giải trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi được cấp Giấy
chứng nhận và được khen thưởng. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể
việc thi chọn học sinh giỏi.
5. Quy
chế tuyển sinh quy định về hình thức tuyển sinh, đối tượng tuyển sinh, trình tự,
thủ tục tuyển sinh, thực hiện chính sách ưu tiên đối với từng loại đối tượng,
khu vực, ngành nghề để bảo đảm công bằng trong giáo dục, phù hợp yêu cầu về cơ
cấu đào tạo, khuyến khích học sinh có năng khiếu.
6. Quy chế
tuyển sinh, Quy định về thi tốt nghiệp, xét tốt nghiệp phải bảo đảm các yêu cầu
sau đây:
a) Thực hiện
được mục đích thi, tuyển sinh;
b) Bảo đảm
chính xác, công bằng, khách quan, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của thí sinh;
c) Nội dung
các đề thi kiểm tra nằm trong chương trình giáo dục, phù hợp với chuẩn kiến thức
và kỹ năng được quy định trong chương trình giáo dục, phân loại được trình độ
của thí sinh, kết quả thi kiểm tra phản ánh đúng kiến thức, kỹ năng đã tích luỹ
được trong quá trình học tập và rèn luyện của thí sinh;
d) Bảo đảm
tổ chức thi kiểm tra nghiêm túc, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi tiêu
cực trong thi cử.
7. Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế thi, tuyển sinh trung học phổ thông,
trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Bộ trưởng Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội ban hành Quy chế thi, tuyển sinh dạy nghề.
Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh quyết định việc tuyển sinh vào các trường trung học phổ thông theo
hình thức thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp thi tuyển và xét tuyển, trên cơ sở
điều kiện cụ thể của địa phương và Quy chế thi, tuyển sinh.
Điều 12.
Văn bằng, chứng chỉ
1. Văn bằng
của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp một cấp
học hoặc một trình độ đào tạo; chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp
cho người học sau khi được hoàn thành một khóa hoặc một chương trình đào tạo,
bồi dưỡng nâng cao học vấn, nghề nghiệp.
Văn bằng,
chứng chỉ phải phản ánh đúng yêu cầu của chương trình giáo dục và trình độ của
người học.
2. Quản lý
văn bằng, chứng chỉ phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
a) Hệ thống
văn bằng, chứng chỉ phải được quản lý thống nhất và thực hiện phân cấp quản lý
nhà nước; bảo đảm quyền và trách nhiệm của cơ sở giáo dục, phù hợp với xu thế
hội nhập quốc tế;
b) Ngăn chặn
và xử lý nghiêm minh mọi hành vi gian lận trong cấp phát và sử dụng văn bằng,
chứng chỉ.
3. Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo thẩm
quyền, quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục cấp văn bằng, chứng chỉ; quy
định về mẫu văn bằng, chứng chỉ; quy định về việc in và quản lý cấp phát, thu
hồi, huỷ bỏ văn bằng, chứng chỉ.
Điều 13.
Thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ
1. Thẩm
quyền cấp văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân được quy định như sau:
a) Bằng tốt
nghiệp trung học cơ sở do Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện cấp;
b) Bằng tốt
nghiệp trung học phổ thông do Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo cấp;
c) Bằng tốt
nghiệp trung cấp, Bằng tốt nghiệp cao đẳng, Bằng tốt nghiệp đại học do Hiệu
trưởng nhà trường, nơi tổ chức đào tạo các trình độ tương ứng cấp; cơ sở giáo
dục đại học có trường đại học thành viên thì Hiệu trưởng trường đại học thành
viên cấp bằng tốt nghiệp;
d) Bằng thạc
sĩ do Hiệu trưởng trường đại học được phép đào tạo trình độ thạc sĩ cấp; trường
hợp viện nghiên cứu khoa học được phép phối hợp với trường đại học đào tạo trình
độ thạc sĩ thì Hiệu trưởng trường đại học cấp bằng thạc sĩ;
đ) Bằng tiến
sĩ do Hiệu trưởng trường đại học hoặc Viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học được
phép đào tạo trình độ tiến sĩ cấp.
2. Chứng chỉ
trong hệ thống giáo dục quốc dân quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Giáo dục
do người đứng đầu cơ sở giáo dục hoặc người đứng đầu tổ chức được phép cấp chứng
chỉ cấp.
Điều 14.
Các trường hợp bị thu hồi và thẩm quyền thu hồi văn bằng, chứng chỉ
1. Văn bằng,
chứng chỉ bị thu hồi trong các trường hợp sau đây:
a) Có hành
vi gian lận trong học tập, trong thi cử, tuyển sinh hoặc gian lận trong việc làm
hồ sơ để được cấp văn bằng, chứng chỉ;
b) Cấp cho
người không đủ điều kiện;
c) Do người
không có thẩm quyền cấp;
d) Bị tẩy
xoá, sửa chữa;
đ) Để cho
người khác sử dụng.
2. Cấp có
thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ thì có trách nhiệm thu hồi và hủy bỏ văn
bằng, chứng chỉ.
Điều 15.
Công nhận văn bằng của người Việt Nam do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp
1. Văn bằng
của người Việt Nam do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp được công nhận trong các
trường hợp sau đây:
a) Văn bằng
được cấp bởi cơ sở giáo dục nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam,
thực hiện hoạt động giáo dục theo quy định trong giấy phép và được tổ chức kiểm
định của Việt Nam hoặc nước ngoài công nhận về chất lượng;
b) Văn bằng
được cấp bởi cơ sở giáo dục nước ngoài thuộc phạm vi áp dụng của hiệp định về
tương đương văn bằng hoặc công nhận lẫn nhau về văn bằng hoặc Điều ước quốc tế
có liên quan đến văn bằng mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
c) Văn bằng
được cấp bởi các cơ sở giáo dục phổ thông ở nước ngoài; cơ sở giáo dục nghề
nghiệp, cơ sở giáo dục đại học ở nước ngoài mà các chương trình giáo dục đã được
cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục của nước đó công nhận.
2. Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể về trình tự, thủ tục công nhận văn bằng
của người Việt Nam do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp.
Chương IV
MẠNG LƯỚI, TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA NHÀ TRƯỜNG VÀ CƠ SỞ GIÁO
DỤC KHÁC
TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
Điều 16.
Nhà trường và cơ sở giáo dục khác
1. Nhà
trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân gồm: trường mẫu giáo, trường mầm non,
trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông, trường phổ
thông có nhiều cấp học, trường trung cấp, trường cao đẳng, trường đại học.
2. Cơ sở
giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân gồm các cơ sở giáo dục được quy
định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Giáo dục.
3. Nhà
trường và cơ sở giáo dục khác trong hệ thống giáo dục quốc dân được gọi chung là
cơ sở giáo dục.
Điều 17.
Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục
1. Quy hoạch
mạng lưới cơ sở giáo dục là phân bố, sắp xếp các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống
giáo dục quốc dân theo vị trí địa lý, vùng lãnh thổ, trên toàn quốc và từng địa
phương, cho từng thời kỳ để cụ thể hóa chiến lược phát triển giáo dục, làm căn
cứ xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục.
2. Quy hoạch
mạng lưới cơ sở giáo dục phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
a) Phù hợp
với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của ngành,
của từng vùng, quy hoạch phát triển của từng địa phương; bảo đảm cơ cấu ngành
nghề, cơ cấu trình độ và cơ cấu vùng miền; đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân;
b) Bảo đảm
tính đa dạng, đồng bộ của hệ thống giáo dục, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa
học, với sản xuất và dịch vụ; từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước;
c) Phù hợp
với năng lực đầu tư của nhà nước và khả năng huy động nguồn lực của toàn xã hội;
tạo điều kiện để mọi người đều có cơ hội tham gia xây dựng cơ sở giáo dục;
d) Tập trung
đầu tư cho các nhiệm vụ chủ yếu, các cơ sở giáo dục trọng điểm và các ngành
trọng điểm, các vùng kinh tế trọng điểm và các vùng đặc biệt khó khăn.
3. Quy hoạch
mạng lưới cơ sở giáo dục bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Cơ cấu hệ
thống giáo dục và quy mô đào tạo theo cấp học, ngành học, trình độ đào tạo, loại
hình cơ sở giáo dục;
b) Phân bố
các cơ sở giáo dục theo tính chất, đặc điểm kinh tế - xã hội từng vùng, từng địa
phương;
c) Đội ngũ
nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục;
d) Cơ sở vật
chất - kỹ thuật.
Điều 18.
Các loại hình cơ sở giáo dục
Cơ sở giáo
dục trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình: công lập,
dân lập và tư thục.
1. Cơ sở
giáo dục công lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập và nhà
nước trực tiếp tổ chức quản lý. Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kinh phí
cho các nhiệm vụ chi thường xuyên, chủ yếu do ngân sách nhà nước bảo đảm.
2. Cơ sở
giáo dục dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở
vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Cộng đồng
dân cư cấp cơ sở gồm tổ chức và cá nhân tại thôn, bản, ấp, xã, phường, thị trấn.
Cơ sở giáo
dục dân lập hoạt động trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, nhân
lực và được chính quyền địa phương hỗ trợ. Không thành lập cơ sở giáo dục dân
lập ở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.
Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp huyện quyết định cho phép thành lập cơ sở giáo dục dân lập, Ủy
ban nhân dân cấp xã trực tiếp quản lý cơ sở giáo dục dân lập.
3. Cơ sở
giáo dục tư thục do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh
tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động của cơ sở
giáo dục tư thục là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước.
Điều 19.
Trách nhiệm xây dựng và thẩm quyền phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục
1. Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương xây dựng quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng
trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
2. Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp
với Thủ trưởng các Bộ, ngành liên quan và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây
dựng quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp; phê duyệt theo thẩm quyền
quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
3. Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh, căn cứ quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, quy hoạch
chung mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp xây dựng quy hoạch mạng lưới cơ sở
giáo dục do địa phương quản lý, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt.
4. Ủy ban
nhân dân cấp huyện căn cứ vào quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục của tỉnh, xây
dựng quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục trên địa bàn huyện trình Hội đồng nhân
dân cùng cấp phê duyệt.
5. Đối với
các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân các cấp có trách nhiệm củng cố, phát triển các trường phổ thông dân tộc nội
trú, phổ thông dân tộc bán trú, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, các cơ sở giáo dục
trên địa bàn theo quy hoạch mạng lưới, ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất,
thiết bị và ngân sách cho trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân
tộc bán trú.
6. Quy hoạch
mạng lưới cơ sở giáo dục do địa phương quản lý phải bảo đảm các yêu cầu cụ thể
sau đây:
a) Mỗi xã,
phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã) có ít nhất một cơ sở giáo dục mầm
non, một trường tiểu học; có trung tâm học tập cộng đồng. Mỗi xã hoặc cụm xã có
ít nhất một trường trung học cơ sở, có thể có trường phổ thông có nhiều cấp học
(tiểu học - trung học cơ sở);
b) Mỗi
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là huyện) có ít
nhất một trường trung học phổ thông; có một trung tâm giáo dục thường xuyên cấp
huyện; có thể có trường phổ thông có nhiều cấp học, trung tâm dạy nghề, trung
tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, trường cấp huyện dành cho người khuyết
tật, tàn tật. Đối với các huyện miền núi, hải đảo có thể có trường phổ thông dân
tộc nội trú cấp huyện, trường phổ thông dân tộc bán trú;
c) Mỗi tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là tỉnh) có ít nhất một
trường trung cấp, một trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh. Tuỳ theo điều
kiện cụ thể và nhu cầu của địa phương, một tỉnh có thể có trường phổ thông dân
tộc nội trú cấp tỉnh, trường năng khiếu nghệ thuật, trường năng khiếu thể dục
thể thao, trường trung học phổ thông chuyên, trường dành cho người khuyết tật,
tàn tật.
Điều 20.
Thành lập cơ sở giáo dục
1. Việc
thành lập cơ sở giáo dục phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Phù hợp
với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục;
b) Khả thi
và hiệu quả;
c) Tạo điều
kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển giáo dục;
d) Đơn giản,
công khai, minh bạch về thủ tục hành chính;
đ) Có địa
điểm bảo đảm môi trường giáo dục, bảo đảm an toàn cho người học, người dạy và
người lao động trong nhà trường.
2. Nhà
trường được thành lập khi có đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, chương trình
giáo dục, trường sở, thiết bị và tài chính theo tiêu chuẩn cụ thể, đáp ứng yêu
cầu hoạt động của nhà trường.
Thủ tướng
Chính phủ quy định cụ thể điều kiện thành lập trường đại học; Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, theo thẩm quyền,
quy định cụ thể điều kiện thành lập trường ở các cấp học và trình độ đào tạo
khác
3. Điều kiện
thành lập, thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập cơ sở giáo dục khác quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 69 của Luật Giáo dục được thực hiện theo Quy chế tổ
chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,
Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành theo thẩm quyền.
4. Trình tự,
thủ tục về việc thành lập cơ sở giáo dục do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền quy định cụ thể trong Điều lệ nhà trường hoặc trong Quy chế tổ chức và
hoạt động của nhà trường và cơ sở giáo dục khác.
Điều 21.
Sáp nhập, chia, tách cơ sở giáo dục
1. Việc sáp
nhập, chia, tách cơ sở giáo dục phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Phù hợp
với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục;
b) Đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội;
c) Bảo đảm
quyền lợi của nhà giáo và người học;
d) Góp phần
nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
2. Việc sáp
nhập, chia, tách cơ sở giáo dục để thành lập cơ sở giáo dục mới thuộc thẩm quyền
của người ra quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập cơ sở giáo dục. Trường
hợp sáp nhập giữa các cơ sở giáo dục không do cùng một cấp có thẩm quyền thành
lập thì cấp có thẩm quyền cao hơn quyết định; trường hợp cấp có thẩm quyền thành
lập ngang nhau thì cấp có thẩm quyền ngang nhau đó thoả thuận quyết định.
3. Trình tự,
thủ tục sáp nhập, chia, tách cơ sở giáo dục được quy định cụ thể trong Điều lệ
nhà trường, trong Quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác.
Điều 22.
Đình chỉ hoạt động của cơ sở giáo dục
1. Việc đình
chỉ hoạt động của cơ sở giáo dục được thực hiện khi xảy ra một trong các trường
hợp sau đây:
a) Vi phạm
các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục
ở mức độ phải đình chỉ;
b) Vì lý do
khách quan không bảo đảm hoạt động bình thường của cơ sở giáo dục.
2. Cấp có
thẩm quyền quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập cơ sở giáo dục thì có
thẩm quyền quyết định đình chỉ hoạt động của cơ sở giáo dục. Trong quyết định
đình chỉ hoạt động của cơ sở giáo dục phải xác định rõ lý do đình chỉ hoạt động,
quy định rõ thời gian đình chỉ; các biện pháp bảo đảm quyền lợi của nhà giáo và
người học. Quyết định đình chỉ hoạt động của cơ sở giáo dục phải được công bố
công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.
3. Sau thời
gian đình chỉ, nếu các nguyên nhân dẫn đến việc đình chỉ được khắc phục thì cơ
quan có thẩm quyền quyết định đình chỉ ra quyết định cho phép cơ sở giáo dục
hoạt động trở lại.
4. Trình tự,
thủ tục đình chỉ hoạt động hoặc cho phép hoạt động trở lại của cơ sở giáo dục
được quy định trong Điều lệ nhà trường, Quy chế tổ chức và hoạt động của nhà
trường hoặc cơ sở giáo dục khác.
Điều 23.
Giải thể cơ sở giáo dục
1. Cơ sở
giáo dục bị giải thể khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:
a) Vi phạm
nghiêm trọng các quy định về quản lý, tổ chức, hoạt động của cơ sở giáo dục;
b) Hết thời
gian đình chỉ mà không khắc phục được nguyên nhân dẫn đến việc đình chỉ;
c) Mục tiêu
và nội dung hoạt động trong quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập cơ sở
giáo dục không còn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội;
d) Theo đề
nghị của tổ chức, cá nhân thành lập cơ sở giáo dục.
2. Cấp có
thẩm quyền quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập cơ sở giáo dục có thẩm
quyền quyết định giải thể hoặc cho phép giải thể cơ sở giáo dục. Cơ quan quản lý
trực tiếp cơ sở giáo dục xây dựng phương án giải thể cơ sở giáo dục trình cấp có
thẩm quyền ra quyết định giải thể hoặc cho phép giải thể cơ sở giáo dục theo quy
định tại Điều 51 của Luật Giáo dục. Trong quyết định giải thể phải xác định rõ
lý do giải thể, các biện pháp bảo đảm quyền lợi của nhà giáo và người học. Quyết
định giải thể cơ sở giáo dục phải được công bố công khai trên các phương tiện
thông tin đại chúng của các cơ quan Trung ương.
3. Trình tự,
thủ tục giải thể cơ sở giáo dục được quy định trong Điều lệ nhà trường, trong
Quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác.
Điều 24.
Hội đồng trường
1. Hội đồng
trường đối với trường công lập, Hội đồng quản trị đối với trường dân lập, trường
tư thục được gọi chung là Hội đồng trường.
Hội đồng
trường là tổ chức quản trị, đại diện chủ sở hữu của nhà trường, đối với các
trường tư thục là tổ chức đại diện duy nhất quyền sở hữu của trường.
2. Nhiệm vụ
của Hội đồng trường quy định tại Điều 53 của Luật Giáo dục và được quy định cụ
thể trong Điều lệ hoặc Quy chế tổ chức và hoạt động nhà trường.
3. Hội đồng
trường có quyền quyết định phương hướng hoạt động, huy động nguồn lực cho nhà
trường; thực hiện giám sát các hoạt động của nhà trường, có quyền giới thiệu
người để cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm hiệu trưởng (đối với trường công lập)
hoặc công nhận hiệu trưởng (đối với trường tư thục); quyết định những vấn đề tổ
chức, nhân sự, tài chính, tài sản và phương hướng đầu tư phát triển của nhà
trường theo quy định.
4. Đối tượng
tham gia Hội đồng trường: đại diện tổ chức Đảng, Ban giám hiệu, giảng viên, cán
bộ quản lý giáo dục, đại diện các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng nhà
trường, đại diện các đơn vị sản xuất, kinh doanh có liên quan.
Đối tượng
tham gia Hội đồng quản trị: những người có vốn góp xây dựng trường.
5. Những quy
định chi tiết về thủ tục thành lập, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của
Hội đồng trường, của Hội đồng quản trị được thể hiện trong Điều lệ hoặc Quy chế
tổ chức và hoạt động của trường được quy định tại Điều 27 Nghị định này.
Điều 25.
Mô hình tổ chức của các loại trường đại học
1. Mô hình
tổ chức của đại học bao gồm:
a) Hội đồng
trường;
b) Giám đốc
và các Phó giám đốc;
c) Các
trường đại học thành viên; các khoa trực thuộc đại học;
d) Các tổ
chức khoa học và công nghệ trực thuộc;
đ) Các
phòng, ban chức năng trực thuộc;
e) Hội đồng
khoa học; các Hội đồng tư vấn khác do Giám đốc thành lập;
g) Tổ chức
Đảng Cộng sản Việt Nam;
h) Các đoàn
thể và tổ chức xã hội;
i) Các tổ
chức phục vụ đào tạo, tổ chức sản xuất kinh doanh dịch vụ.
Trường thành
viên của đại học không có Hội đồng trường.
2. Mô hình
tổ chức của trường đại học, học viện bao gồm:
a) Hội đồng
trường;
b) Hiệu
trưởng và các Phó Hiệu trưởng đối với trường đại học; Giám đốc và các Phó Giám
đốc đối với học viện;
c) Các khoa;
bộ môn thuộc trường đại học, học viện;
d) Các bộ
môn thuộc khoa. Một số trường đại học, học viện chuyên ngành có thể chỉ có các
khoa hoặc bộ môn trực thuộc trường;
đ) Hội đồng
khoa học; các Hội đồng tư vấn khác do Hiệu trưởng đại học hoặc Giám đốc học viện
thành lập;
e) Các
phòng, ban chức năng;
g) Các tổ
chức khoa học và công nghệ; tổ chức phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và công
nghệ; tổ chức sản xuất kinh doanh, dịch vụ;
h) Tổ chức
Đảng Cộng sản Việt Nam;
i) Các đoàn
thể và tổ chức xã hội.
3. Mô hình
tổ chức của Đại học quốc gia được thực hiện theo quy định riêng.
4. Trường
đại học tư thục còn có những quy định riêng được thể hiện trong Quy chế tổ chức
và hoạt động của trường đại học tư thục.
Điều 26.
Cơ sở giáo dục đại học thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên để cấp bằng
tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học
1. Cơ sở
giáo dục đại học được giao nhiệm vụ thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên
để cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học khi bảo đảm các điều
kiện sau đây:
a) Đã xây
dựng được chương trình giáo dục thường xuyên đối với ngành đào tạo ở trình độ
cao đẳng, đại học đáp ứng các yêu cầu của giáo dục chính quy;
b) Có đội
ngũ giảng viên đủ số lượng, đạt chuẩn và đồng bộ về cơ cấu để thực hiện đồng
thời nhiệm vụ giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên;
c) Có cơ sở
vật chất, trang thiết bị bảo đảm đáp ứng yêu cầu thực hiện đồng thời nhiệm vụ
giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
2. Khi thực
hiện chương trình giáo dục thường xuyên để cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng
tốt nghiệp đại học, cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm xây dựng chỉ tiêu
tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo phù hợp với năng lực
đào tạo của trường, bảo đảm hoàn thành có chất lượng nhiệm vụ đào tạo của mình.
3. Trong
trường hợp liên kết đào tạo với cơ sở giáo dục khác thì cơ sở giáo dục đại học
(cơ sở chủ trì đào tạo) chỉ được liên kết với cơ sở giáo dục là trường đại học,
trường cao đẳng, trường trung cấp, trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh với
điều kiện cơ sở giáo dục này phải bảo đảm các yêu cầu về cơ sở vật chất, thiết
bị và cán bộ quản lý phải phù hợp với yêu cầu của từng ngành được liên kết đào
tạo. Việc liên kết đào tạo được thực hiện trên cơ sở hợp đồng liên kết đào tạo;
cơ sở chủ trì đào tạo chịu trách nhiệm toàn diện về việc liên kết đào tạo.
4. Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ thực hiện chương trình giáo dục thường
xuyên để cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học cho các cơ sở
giáo dục đại học đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này; quy định cụ thể,
hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên để cấp
bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học của cơ sở giáo dục đại học,
bảo đảm thực hiện quy định tại Điều 12 Nghị định này.
Điều 27.
Điều lệ nhà trường, Quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục
1. Điều lệ
nhà trường được áp dụng chung cho mọi loại hình nhà trường ở một hoặc một số cấp
học, trình độ đào tạo. Điều lệ nhà trường phải thể hiện đầy đủ những nội dung
chủ yếu được quy định tại Điều 52 Luật Giáo dục, xác định cụ thể về tiêu chuẩn
thiết bị, cơ sở vật chất để giảng dạy, học tập, tỷ lệ giữa nhà giáo và người
học, cơ cấu đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đối với từng cấp học,
từng trình độ đào tạo.
2. Quy chế
tổ chức và hoạt động của nhà trường gồm các quy định cụ thể hoá Điều lệ nhà
trường để áp dụng cho một loại hình nhà trường.
3. Quy chế
tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác được áp dụng cho một hoặc một số cơ
sở giáo dục quy định tại điểm b khoản 1 Điều 69 Luật Giáo dục thuộc các loại
hình công lập, dân lập, tư thục. Quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục
quy định: nhiệm vụ và quyền hạn của cơ sở giáo dục; tổ chức các hoạt động giáo
dục; nhiệm vụ và quyền hạn của nhà giáo; nhiệm vụ và quyền của người học; tổ
chức và quản lý cơ sở giáo dục; tài chính và tài sản của cơ sở giáo dục; quan hệ
giữa cơ sở giáo dục với gia đình người học và xã hội.
4. Thẩm
quyền ban hành Điều lệ nhà trường, Quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường,
Quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác được quy định như sau:
a) Thủ tướng
Chính phủ ban hành Điều lệ trường đại học, Quy chế tổ chức và hoạt động của
trường đại học tư thục; Quy chế tổ chức và hoạt động của đại học quốc gia;
b) Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội ban hành Điều lệ Trường cao đẳng, Điều lệ Trường trung cấp;
c) Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ trường phổ thông có nhiều cấp học,
trường trung học phổ thông và trung học cơ sở; trường tiểu học, trường mẫu giáo,
trường mầm non; các Quy chế tổ chức và hoạt động của các đại học, các Quy chế tổ
chức và hoạt động của trường tư thục thuộc trình độ cao đẳng, trung cấp chuyên
nghiệp, các cấp học phổ thông; Quy chế tổ chức và hoạt động của trường mầm non
dân lập, tư thục; Quy chế tổ chức và hoạt động của trường chuyên biệt;
d) Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành các Quy chế tổ chức và hoạt động
của trường tư thục thuộc trình độ trung cấp nghề và cao đẳng nghề;
đ) Thẩm
quyền ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác quy định tại
khoản 3 Điều 69 của Luật Giáo dục.
Điều 28.
Chuyển đổi loại hình cơ sở giáo dục
1. Việc
chuyển đổi cơ sở giáo dục bán công, dân lập thành lập trước ngày 01 tháng 01 năm
2006 sang loại hình khác được quy định như sau:
a) Đối với
giáo dục mầm non: ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, cơ
sở giáo dục bán công chuyển thành cơ sở giáo dục công lập; ở các vùng còn lại,
cơ sở giáo dục bán công chuyển thành cơ sở giáo dục dân lập, tư thục; trường hợp
giữ nguyên loại hình dân lập phải bảo đảm đúng quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị
định này;
b) Đối với
giáo dục phổ thông: cơ sở giáo dục bán công, dân lập chuyển thành cơ sở giáo dục
tư thục. Trong trường hợp chuyển một số cơ sở giáo dục bán công sang loại hình
công lập thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét,
quyết định;
c) Đối với
giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học: cơ sở giáo dục bán công, dân lập chuyển
thành cơ sở giáo dục tư thục.
2. Thủ tướng
Chính phủ quy định nguyên tắc chuyển đổi loại hình của các cơ sở giáo dục đại
học bán công, dân lập được thành lập trước ngày 01 tháng 01 năm 2006; Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo thẩm
quyền, quy định trình tự, thủ tục chuyển đổi loại hình cơ sở giáo dục bán công,
dân lập ở các cấp học và trình độ đào tạo sang cơ sở giáo dục công lập, dân lập,
tư thục.
Chương V
CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NHÀ GIÁO
Điều 29.
Tuyển dụng, quản lý, điều động nhà giáo
1. Việc
tuyển dụng nhà giáo phải bảo đảm các quy định tại Điều 70, Điều 77 của Luật Giáo
dục.
2. Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, theo thẩm
quyền, chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn cơ sở giáo dục trong
việc tuyển dụng, quản lý, tham gia vào quá trình điều động của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đối với nhà giáo, cán bộ, nhân viên đang làm việc tại các cơ sở
giáo dục công lập; quy định chế độ làm việc của nhà giáo ở các cấp học và trình
độ đào tạo.
3. Cơ sở
giáo dục dân lập, tư thục thực hiện việc tuyển dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ,
nhân viên làm việc tại cơ sở mình theo quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật
Giáo dục.
Điều 30.
Nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của nhà giáo
Người tốt
nghiệp các trình độ đào tạo muốn trở thành nhà giáo mà chưa qua đào tạo về
nghiệp vụ sư phạm thì phải được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm.
Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo thẩm
quyền, quy định về chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, thời
gian đào tạo nghiệp vụ sư phạm đối với người chưa qua đào tạo nghiệp vụ sư phạm;
quy định về bồi dưỡng và nâng cao trình độ cho nhà giáo; quy định về điều kiện
để các cơ sở giáo dục được tổ chức bồi dưỡng và cấp Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm.
Nhà giáo
được cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ được hưởng
nguyên lương và phụ cấp trong suốt quá trình học tập.
Điều 31.
Thỉnh giảng
Thỉnh giảng
là việc một cơ sở giáo dục mời nhà giáo hoặc người có đủ tiêu chuẩn của nhà giáo
ở nơi khác đến giảng dạy. Khuyến khích các cơ sở giáo dục mời nhà giáo, nhà khoa
học trong nước, nhà khoa học là người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người
nước ngoài đến giảng dạy ở các trường Việt Nam theo chế độ thỉnh giảng.
Bộ trưởng
Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, theo thẩm
quyền, quy định cụ thể về chế độ thỉnh giảng.
Điều 32.
Phong tặng danh hiệu tiến sĩ danh dự
1. Danh hiệu
tiến sĩ danh dự được phong tặng cho các nhà hoạt động chính trị, xã hội có uy
tín quốc tế, nhà giáo, nhà khoa học là người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
người nước ngoài có đóng góp nhiều cho sự nghiệp giáo dục và khoa học của Việt
Nam.
2. Cơ sở
giáo dục đại học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ có quyền phong tặng
danh hiệu tiến sĩ danh dự.
Bằng tiến sĩ
danh dự phải theo mẫu bằng tiến sĩ; trong đó thay vì "học vị Tiến sĩ" ghi là
"danh hiệu Tiến sĩ danh dự" của trường.
3. Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn về trình tự, thủ tục phong tặng danh hiệu tiến
sĩ danh dự.
Chương VI
CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HỌC
Điều 33.
Đối tượng được cấp học bổng, trợ cấp và miễn giảm học phí
1. Đối tượng
được xét cấp học bổng khuyến khích học tập:
a) Học sinh
đạt kết quả học tập xuất sắc ở trường chuyên, trường năng khiếu;
b) Người học
có kết quả học tập, rèn luyện từ loại khá trở lên ở các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp, giáo dục đại học.
2. Đối tượng
được cấp học bổng chính sách:
a) Sinh viên
hệ cử tuyển;
b) Học sinh
trường dự bị đại học, trường phổ thông dân tộc nội trú;
c) Học viên
trường dạy nghề dành cho thương binh, người tàn tật, người khuyết tật.
3. Đối tượng
được trợ cấp, miễn, giảm học phí và ưu tiên trong tuyển sinh:
a) Thương
binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh;
b) Anh hùng
Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, người có thành tích xuất sắc trong lao
động, học tập, sản xuất, chiến đấu;
c) Học sinh,
sinh viên là con liệt sĩ, con thương binh, con của người hưởng chính sách như
thương binh, con Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, con Anh hùng lực lượng vũ trang, con
Anh hùng lao động, con của người có công giúp đỡ cách mạng, con đẻ của người
hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; con của người hoạt động cách
mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; con của người hoạt động kháng
chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế; con của người
hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 hoặc người hoạt động cách
mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945;
d) Người dân
tộc thiểu số ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
đ) Học sinh,
sinh viên có cha mẹ thường trú tại vùng cao miền núi (trừ thành phố, thị xã, thị
trấn) và vùng sâu hải đảo;
e) Người mồ
côi không nơi nương tựa;
g) Người tàn
tật, người khuyết tật có khó khăn về kinh tế;
h) Người có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vượt khó học tập;
i) Học sinh,
sinh viên là con công nhân, viên chức mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động được
hưởng trợ cấp thường xuyên;
k) Học sinh,
sinh viên có gia đình thuộc diện hộ nghèo theo quy định chung của nhà nước.
4. Đối tượng
không phải đóng học phí:
a) Học sinh
tiểu học trường công lập;
b) Học sinh,
sinh viên các trường sư phạm, người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm.
5. Học sinh,
sinh viên các trường sư phạm, người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm
thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 của Điều này được ưu tiên trong
việc xét cấp học bổng và trợ cấp xã hội.
6. Thủ tướng
Chính phủ quy định tiêu chuẩn, mức và thủ tục xét cấp học bổng chính sách và
miễn giảm học phí. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội, theo thẩm quyền, quy định cụ thể về ưu tiên trong tuyển
sinh; tiêu chuẩn, mức và thủ tục xét cấp học bổng khuyến khích học tập cho người
học.
Bộ trưởng Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội quy định về trợ cấp xã hội cho người học.
Điều 34.
Chính sách đối với trẻ em tại cơ sở giáo dục mầm non
Trẻ em ở cơ
sở giáo dục mầm non được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, bảo vệ theo quy định
của Luật Giáo dục, Luật Bảo vệ, chăm sóc và Giáo dục trẻ em và các quy định khác
của pháp luật.
Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành mục tiêu, kế hoạch và chương trình giáo dục mầm non phù hợp
với sự phát triển tâm sinh lý của tr̒