 |
|
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRI THỨC VỮNG MẠNH LÀ TRỰC TIẾP NÂNG TẦM
TRÍ TUỆ, SỨC MẠNH CỦA ĐẤT NƯỚC, CỦA ĐẢNG VÀ CỦA CẢ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Trường ĐHKHTN- ĐHQG-HCM tổ chức lễ kết nạp Đảng viên
Sáng
ngày 8-8-2008, tại pḥng F102 của Trường ĐHKHTN- ĐHQG-HCM, chi ủy Chi bộ Sinh
viên 1 của Trường ĐHKHTN- ĐHQG-HCM đă tổ chức Lễ kết nạp Đảng viên mới do các
đoàn viên, thanh niên ưu tú
(Xem) cập nhật ngày
12-08-2008
Thành lập Trung tâm Hàn ngữ Sejong tại Trường ĐHKHXH&NV-
ĐHQG-HCM
Trường ĐHKHXH&NV- ĐHQG-HCM và ĐH Chosun (Hàn Quốc) đă hợp tác thành lập Trung
tâm Hàn ngữ Sejong văn pḥng đặt tại Trường ĐHKHXH&NV
(Xem) cập nhật ngày
12-08-2008
“Chương tŕnh tư vấn, tập huấn phục vụ công tác tín chỉ
hóa đào tạo và đánh giá chương tŕnh đào tạo theo tiêu chuẩn AUN”
Nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả cho công tác tổ chức, quản lư đào tạo theo
học chế tín chỉ và chuẩn bị cho công tác kiểm định cấp chương tŕnh
(Xem) cập nhật ngày
08-08-2008
Chi bộ sinh viên Khoa Kinh tế tổ chức lễ kết nạp Đảng cho
11 sinh viên tại chiến dịch mùa hè xanh 2008
Sáng ngày 04/8/2008, ngay trong chiến dịch t́nh nguyện mùa hè xanh 2008 tại
Huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, Chi bộ sinh viên thuộc Đảng bộ Khoa Kinh tế - ĐHQG
TP.HCM
(Xem) cập nhật ngày
06-08-2008
Học sinh Trường phổ thông Năng khiếu- ĐHQG-HCM được tuyên
dương tại Lễ tuyên dương HS giỏi TPHCM năm học 2007-2008
Sáng
1-8, tại hội trường Thống Nhất, UBND TP.HCM đă tổ chức lễ tuyên dương, khen
thưởng HS giỏi năm học 2007-2008
(Xem) cập nhật ngày
06-08-2008
Buổi seminar “How to conduct research and get published
in an English-based international journal”
14h
ngày 4/8/2008, tại Hội trường Dăy nhà I, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, 227
Nguyễn Văn Cừ, Quận 5, Tp.HCM, ĐHQG-HCM sẽ tổ chức buổi seminar “How to conduct
research and get published in an English-based international journal” do GS Bùi
Tùng
(Xem) cập nhật ngày
31-07-2008
Khoa Sinh học, Trường ĐH KHTN – ĐHQG-HCM được tặng Cờ thi
đua của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Vừa qua, Thứ
trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Phạm Vũ Luận đă kư Quyết định số 390/QĐ-BGDĐT về
việc tặng Cờ thi đua của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
(Xem) cập nhật ngày
30-07-2008
Hội thảo An ninh con người ở Đông Nam Á
Ngày
22 và 23 tháng 7 năm 2008, Trường ĐH Khoa học Xă hội và Nhân văn ĐHQG-HCM phối
hợp Quỹ Châu Á tại Việt Nam
(Xem) cập nhật ngày
28-07-2008
Khai giảng lớp học “ Năng lượng gió và khả năng
ứng dụng”
Ngày
14/7-18/7/2008, Trung tâm Năng lượng mới Khoa Điện – Điện tử, Trường Đại
học Bách khoa – ĐHQG-HCM
(Xem) cập nhật ngày
24-07-2008
|
Warning: fclose(): supplied argument is not a valid stream resource in /web/ROOT/vn/tintuc531.php on line 128
|
|
 |
 |
 |
Warning: fclose(): supplied argument is not a valid stream resource in /web/ROOT/vn/tintuc531.php on line 149
|
 |
|
|
|
|
MAX PLANCK (1858-1947)
KỶ
NIỆM
SINH NHẬT
150 NĂM
Nguyễn
Xuân Xanh
Lời
nói đầu
Ngày 23.4 là
ngày kỷ niệm sinh nhật thứ 150 năm của nhà vật lư học vĩ đại Max Planck. Đây là
một sự kiện có ư nghĩa thế giới. Khám phá lượng tử của ông năm 1900 đă làm đảo
lộn nhận thức của con người về vũ trụ vi mô chưa từng có, và tác động không
ngừng vào sự thay đổi bộ mặt của xă hội đến nay, và cho tương lai. Vật lư học
hiện đại tựa trên hai cột trụ kiên cố là thuyết lượng tử và thuyết tương đối của
Max Planck và Albert Einstein. Hai chữ ‘lượng tử’ ngày nay đồng nghĩa với
“high-tech”.
Max Planck là
con người của lương tâm, đạo đức, trách nhiệm trước xă hội, đất nước và sự phát
triển khoa học. Max-Planck-Gesellschaft, tổ chức nghiên cứu và khuếch trương
khoa học có lẽ lớn nhất thế giới, cũng là một trong những nơi quan trọng sản
sinh ra những người được giải Nobel, có lư do chính đáng để mang tên ông như một
sự tự hào. Ông được giải Nobel vật lư năm 1919. Huy chương mang tên Max Planck
là phần thưởng cao quư nhất cho vật lư học được ra đời năm 1929. Vinh quang
không thiếu đối với ông. Nhưng có lẽ ít người biết đến cuộc đời rơi nước mắt của
ông mà định mệnh đă dành riêng cho ông vô cùng nghiệt ngă.
Những tiến bộ
công nghiệp và khoa học, và sự phồn vinh xă hội mà ngày nay mọi người trong
chúng ta được thừa hưởng, phần rất lớn có nguồn gốc từ thuyết lượng tử, và những
ứng dụng của nó trong thế kỷ 21 được chờ đợi càng mạnh mẽ hơn, vũ bảo hơn. Chúng
ta không thể không biết ơn nhà bác học vĩ đại này, và giành vài giây phút để
chia sẻ với cuộc đời bi thảm của ông vào ngày sinh thứ 150 năm của ông.
|

Max Planck |
|
“Tôi chào định mệnh đă cho tôi một nền giáo dục nhân văn. Các nhà cổ
điển Hy Lạp và La Mă tôi không bao giờ muốn đánh mất khỏi trí nhớ tôi.
Tôi tin chắc rằng, trong thời đại hiện tại, chủ yếu được định hướng theo
những lợi ích bề ngoài, th́ trường trung học nhân văn lại càng quan
trọng hơn bao giờ hết. V́ cần phải cho tuổi trẻ biết rằng c̣n một loại
‘thưởng thức’ khác hơn là loại thưởng thức chỉ dựa trên lănh vực vật
chất hay tiết kiệm th́ giờ và tiền bạc.”
MAX PLANCK |
Giá
trị của khám phá
Trong sự phát triển của vật lư học có những khám phá vượt ra khỏi lănh vực khoa
học và trở thành nhân tố quyết định cho định mệnh của nhân loại. Không phải chỉ
v́ đó là sự khám phá ra những hiện tượng tự nhiên hay những lực mới để ứng dụng
vào kỹ thuật làm tăng lên sức mạnh của con người đối với thiên nhiên, đem lại sự
phồn vinh cho nhân loại, mà c̣n v́ tính chất cách mạng bao trùm về ư tưởng trong
cách diễn giải thế giới tự nhiên, tính chất triết học chứa đựng trong đó liên
quan đến thế giới quan của con người. Lư thuyết cơ học Newton là một thí dụ điển
h́nh như thế. Không những nó đem lại cách tư duy và phương pháp lạm việc cho
khoa học, giải thích được những hiện tượng tự nhiên trong trời đất bằng toán học
một cách chính xác, nó c̣n châm ng̣i cho phong trào khai sáng ở châu Âu thế kỷ
18. Trong thế kỷ 20, thuyết lượng tử của Max Planck là một thí dụ cho một cuộc
cách mạng của tư duy vật lư như thế.
Vật
lư cuối thế kỷ 19
Cuối thế kỷ 19
lối suy nghĩ của giai cấp tư sản cũng như của giới khoa học ở châu Âu là bảo thủ.
Sau một thời gian xây dựng vũ bảo ở thế kỷ 19 người ta tin vào sự trường tồn của
hiện trạng. Cả trật tự nhà nước lẫn khoa học được xem như bền vững. Vật lư học
được xem như tựa lên hai cột trụ bền vững không ǵ lay chuyển nổi, và hoàn hảo
nhất: cơ học của Galilei-Newton và thuyết điện từ trường của Maxwell được phát
triển từ những quan niệm thực nghiệm về trường của Faraday. Tuy mười năm cuối
của thế kỷ 19 giới khoa học chứng kiến một loạt hiện tượng mới chưa giải thích
được, như tia Röntgen, hiện tượng phóng xạ, sự kiện không t́m thấy chuyển động
của trái đất đối với ether, tính chất kỳ lạ của bức xạ (tia ca-tốt), nhưng người
ta tin rằng sẽ giải quyết được những “lổ hổng” đó bằng các lư thuyết hiện hành.
Không ai nghĩ rằng ṭa nhà khoa học đang rạn nứt, và con người đang đứng trước
một cổng trời khám phá mênh mông.
Thế giới
quan của Planck đă h́nh thành trong không khí tư duy bảo thủ đó mà sau này ông
đă phải chiến đấu nội tâm dữ dội và một nổ lực lớn lao để vượt qua chính ḿnh và
xét lại những “tín điều” đă có. Những kinh nghiệm đau đớn đă dạy ông, rằng không
có ṭa nhà khoa học lẫn ṭa nhà nhà nước hiện hữu nào được phép xem như bất khả
xâm phạm.
Nhưng
chính con người mang quan niệm bảo thủ này lại làm một cuộc cách mạng vĩ đại -
một cách miễn cưỡng- có hệ quả không kém so với Copernice hay Newton.
‘Một cái đầu lôgích và sáng sủa’
Max Planck sinh ngày 23.4.1858 tại
Kiel (Bắc Đức), học vật lư ở München và Berlin. Gia đ́nh ông là những người có
tiếng tăm, đáng tin cậy, thẳng thắn, trung thực, lư tưởng và thanh lịch. Họ là
những người phục vụ nhà nước và nhà thờ. Ông có niềm tin rằng các định luật tự
nhiên tồn tại độc lập với con người, đơn giản và có thể lư giải được bằng tư duy.
Ông là một học tṛ thuộc loại gương mẫu, “một người được của các thầy và đồng
bạn yêu mến, và với tất cả sự thơ ngây, là một cái đầu rất lôgích và sáng sủa.
Hứa hẹn cái ǵ đó xứng đáng” như được ghi trong chứng chỉ của trường. Max Planck
rất có khiếu về âm nhạc, đến nỗi trước khi vào đại học, ông phân vân không biết
ḿnh nên học nhạc hay vật lư. Ông cũng là người thích leo núi một cách đam mê.
Một ngày leo núi làm cho tâm hồn ông vui sướng như một symphony của Brahms.
Ngay từ nhỏ ông đă chứng kiến
những cảm giác quốc gia, ḷng yêu nước sôi sục biểu lộ ư chí cao độ về một sự
thống nhất quốc gia của tổ quốc và có ấn tượng sâu đậm trước những sự kiện lịch
sử. Năm 13 tuổi ông chứng kiến cuộc chiến tranh Pháp-Đức 1870/71 và được tin
người anh mất tại trận Orléan, chứng kiến sự thành lập của vương quốc Đức mới.
Ông cùng đồng cảm với những anh hùng đă biểu lộ t́nh yêu tổ quốc bằng chính máu
thịt ḿnh.
|

Bút tích của Planck: thư gửi Heinrich
Hertz.
(Nguồn: Vorträge, Reden und
Erinnerungen)
|

Max Planck thời sinh viên tại Berlin,
1878 |
Ông xong trung
học lúc 16 tuổi, tốt nghiệp tiến sĩ năm 1879 tại München lúc 21 tuổi (năm
Einstein mới ra đời), khá trẻ, và là Privatdozent (giáo sư chưa có ghế) tại đây
từ 1880-85, sau đó là giáo sư ngoại ngạch ngành vật lư lư thuyết tại Kiel, và từ
1889 là người kế tục chiếc ghế giáo sư của người thầy khả kính của ḿnh là
Kirchhoff tại Berlin. Ông nghiên cứu những vấn đề của nhiệt động học, đặc biệt
khái niệm mới là entrôpi mà nhà vật lư lớn Boltzmann ở Wien diễn giải như một độ
đo của xác suất, để rồi sau này có dịp áp dụng cho khám vĩ đại của ông về năng
lượng bức xạ [Entrôpi của một sự kiện (A) là S = k.lnW, trong đó ln là
logarithm, W là xác suất của (A) và k là hằng số Boltzmann]. Ông là con người tự
học và tự lập là chính:“Tôi không được ban hạnh phúc có quan hệ cá nhân với một
nhà nghiên cứu hay thầy nổi tiếng để ảnh hưởng lên hướng phát triển sâu của quá
tŕnh giáo dục tôi. Những điều tôi học được đều bắt nguồn từ việc nghiên cứu các
bài viết của các bậc thầy, trong số đó đặc biệt tôi phải kể đến các tên tuổi
Hermann von Helmholtz, Rudolf Clausius, Gustav Kirchhoff trong sự ngưỡng mộ và
biết ơn.”
Đi
t́m cái tuyệt đối
Ông là
người đi
t́m cái vĩnh cửu, tuyệt đối. “Tôi chỉ tiếp xúc với vật lư học lần đầu tiên
qua thầy dạy toán của tôi, Hermann Müller, một người trạc tuổi trung niên, suy
nghĩ rất sắc sảo và hài hước. Ông ấy hiểu cách mô tả những định luật vật lư mà
ông dạy bọn học tṛ chúng tôi bằng những thí dụ rất đặc trưng. Cho nên bằng cách
đó tôi đón nhận định luật bảo toàn năng lượng như định luật đầu tiên trong đời
có hiệu lực độc lập với con người như một ‘tin lành’ trong tôi”. Trong “Tự
thuật khoa học” (Wissenschaftliche Selbtbiographie) ông nói: “Ngay từ đầu của
sự tŕnh bày về cuộc đời tôi, tôi đă nhấn mạnh, rằng sự t́m kiếm cái tuyệt đối
là nhiệm vụ khoa học đẹp nhất đối với tôi”. Bài toán bức xạ nhiệt đang gây
quan tâm trong giới vật lư cung cấp một cái tuyệt đối như thế: Những nghiên cứu
của Kirchhoff đă chứng minh rằng, bức xạ trong một pḥng rỗng có các bức tường
bao bọc được đung nóng lên ở một nhiệt độ nhất định có tính chất tuyệt đối: nó
hoàn toàn độc lập với tính chất của vật liệu của các bức tường, và là một hàm số
phổ quát của nhiệt độ của các bức tường và của tần số của các sóng thành phần
của bức xạ (màu của ánh sáng). Sự lệ thuộc nhiệt độ thể hiện ở chỗ, ở nhiệt độ
550oC màu của bức xạ phát ra từ vật đen là đỏ sẫm, ở nhiệt độ 750oC,
màu đỏ tươi, ở 900oC màu cam, ở 1000oC màu vàng, ở 1200oC
và trên đó màu trắng, như chúng ta có thể quan sát ở một thanh sắt được nung lên.
Trên quang phổ, Wilhelm Wien đă chứng minh rằng các màu của bức xạ chuyển dịch
từ đỏ sang tím, nghĩa là sang vùng các tần số cao hơn, nhưng chưa t́m thấy cơ sở
lư thuyết nào để giải thích chính xác định luật bức xạ đó. Từ 1896 trở đi Planck
tập trung toàn bộ sức lực để giải quyết bài toàn này, nhất là khi Wien lần đầu
tiên ứng dụng khái niệm entrôpi ở đây, điều làm cho bài toán càng thêm hấp dẫn,
và Planck “chỉ nghĩ rằng tôi phải đạt được một kết quả tích cực, trong mọi
hoàn cảnh, dù tốn ǵ cũng được”. Ông xem bức xạ năng lượng là vùng ‘đất hứa’
trong nghiên cứu. Ông đă thể hiện ở đây tất cả tính cách của ḿnh: không những
một ư chí không lay chuyển, siêng năng không mệt mỏi và một sự kết hợp đáng ngạc
nhiên giữa sự thận trọng và ḷng kiên nhẫn với một sự táo bạo lớn nhất. Ông vốn
bảo thủ, quay lưng lại các sự đổi mới cách mạng, và nghi ngờ những tư biện viễn
vông, nhưng ḷng tin vào khả năng chinh phục tự nhiên bằng tư duy lôgích được
xây dựng trên các dữ kiện thực nghiệm đă làm ông không nghiêng ngă để “thử
nghiệm” cả một quan niệm hoàn toàn ngược lại truyền thống, v́ tin rằng không có
con đường nào khác. [Ở đây cũng cần nói thêm, C.F. von Weizsäcker đă một lần
viết nhận định về Heisenberg, điều có lẽ cũng đúng cho Planck: “Ông tin rằng
chỉ có con người bảo thủ mới có thể là một người cách mạng thực sự. Chỉ con
người bảo thủ mới xem các cấu trúc lưu truyền đủ nghiêm chỉnh để đau khổ sâu sắc
với sự không thỏa măn của chúng, và khám phá ra chỗ yếu duy nhất để các cấu trúc
cổ đó phải bị, và có thể bị bẻ găy, để đưa vào một thực tại mới.”]
|

Một trang của bài thuyết tŕnh “Định
luật phân bố năng lượng trong quang phổ chuẩn” của Planck ngày
4.12.1900.
(Nguồn: A.Hermann, Planck)
|

Mô tả thí nghiệm. Pḥng rỗng được đun
nóng lên bên trong một lớp cách nhiệt. Ánh sáng phát xạ đi qua
lăng kính quang phổ, và một máy cường độ được đặt chỗ tiếp nhận. (Nguồn:
E.P.Fischer)
|
‘Một hành động của sự tuyệt vọng’
hay
là sự khai sinh của thuyết lượng tử
Cuối năm 1900, ông sử dụng “cái đầu lô gích và sáng
sủa” của ḿnh thoát khỏi các phạm trù tư duy cũ. Để lư giải được công thức về
bức xạ nhiệt ông t́m thấy trong một ngày tháng 10 trước đó bằng phương pháp nội
suy, tỏ ra hoàn toàn phù hợp với thực tiễn của các thí nghiệm đo đạt nhưng chưa
có cơ sở giải thích, ông cảm thấy bị bắt buộc đưa vào một đại lượng năng lượng
nhỏ ε như ông viết: “Ứng dụng định luật dịch chuyển (trong quang phổ) của
Wien trong dạng sau cùng lên biểu thức (6) của entrôpi S, chúng ta sẽ
nhận thấy rằng phần tử năng lượng ε phải tỷ lệ với số dao động
ν (trong một giây, tức tần số, của các phân tử rung động mà ông gọi là
những cái cộng hưởng), cho nên ε =h.ν, và do đó…(suy ra công thức
về định luật phân bố năng lượng).” [Xem ảnh của trang báo cáo bằng tiếng Đức]
Với giả thiết ε =h.ν này, công thức bức xạ nhiệt ông t́m thấy
trước đó được chứng minh chính xác, và màn đêm bí mật của hiện tượng bức xạ của
vật thể đen hoàn toàn được vén lên! Thật là tuyệt vời! Galilei lại một lần nữa
có lư khi ông viết: “thiên nhiên được viết bằng ngôn ngữ toán học”. Hằng
số h , được gọi là hằng số (tác động) Planck là vô cùng nhỏ, h =
6,626×10-34
Js (Joule-giây), nghĩa là bằng 0, 000 000 000 000 000 000 000 000 000 000 000
663 Js. Các năng lượng h, 2h, 3h, .…cho phép được trao đổi
do đó là vô cùng nhỏ, nhưng với một số lượng khổng lồ diễn ra ở cấp vi mô đủ để
cho ta những trị số vĩ mô cảm nhận được.
Đại lượng ε
này, lệ thuộc vào tần số, là “bước nhảy lượng tử”. Công thức ε =h.ν
nói rằng năng lượng bức xạ được trao đổi chỉ xảy ra ở dạng “gói lượng tử” rời
rạc chứ không liên tục. Đó là “giả thuyết lượng tử”: thiên nhiên ‘nhảy vọt’ chứ
không phải xảy ra liên tục! “Nguyên lư liên tục” cổ điển của khoa học (natura
non facit saltus) từ thời Leibniz, Newton do đó lần đầu tiên bị bác bỏ. Chúng ta
hăy tưởng tượng: bia không được phân phối trao đổi bằng những cái ṿi chảy liên
tục mà bằng các chai, lon hay thùng, kích cỡ khác nhau!
Ngày 14.11.1900
Planck tŕnh bài kết quả của ông tại buổi họp của Hội Vật lư Berlin, dưới cái
tên “Định luật phân bố nhiệt trong quang phổ chuẩn” (Gesetz der
Energieverteilung im Normalsprektrum), dài 9 trang in. Nó đánh dấu chính thức
ngày sinh nhật lịch sử của thuyết lượng tử.
Planck không biết
rằng công thức ε =h.ν là một định luật “tuyệt đối” mà trong vô
thức Planck đă ngưỡng mộ và t́m kiếm, là chiếc ch́a khóa để bước vào thế giới vi
mô. Ông chưa hiểu hết tầm quan trọng và cũng không tin công thức này là một cuộc
cách mạng vĩ đại, là một thời kỳ mới trong nhận thức thiên nhiên.
Bản thân Planck chỉ tin
rằng đó là cái “mẹo toán” nhất thời. “Nói tóm tắt, tôi có thể gọi cả việc làm
của tôi là một hành động của sự tuyệt vọng. Bởi v́ từ bản chất, tôi là người
hiền ḥa và có khuynh hướng lánh xa các hành động mạo hiểm đáng nghi ngờ…”.
Những năm tiếp theo, vẫn không có mấy ai để ư đến. Người ta xem ư tưởng lượng tử
như một giả thuyết phụ trợ để hoạt động, để giải quyết được bài toán trong lănh
vực bức xạ, nhưng c̣n lại không có ư nghĩa ǵ mới đối với khoa học, và người ta
chờ đợi nó nhanh chóng sẽ được thay thế bằng một cái ǵ từ nền vật lư cổ điển.
Lịch sử thành công của khái niệm lượng tử của Planck lắm gian nan.
Cần một bà mụ để vỗ lớn vị ‘hoàng tử nhỏ’ chưa được thừa nhận nguồn gốc ấy. Công
việc này được giao cho không ai khác hơn là Albert Einstein.
Einstein xuất hiện
Năm 1905 chàng thanh niên Einstein 26 tuổi vô danh, làm việc ở Sở sở hữu sáng
chế ở Bern, công bố một loạt 5 bài báo liền trong tạp chí Annalen der Physik
(Niên giám vật lư), trong đó có bài mà ông cho là “rất cách mạng”: “Về một quan
điểm heuristic (hỗ trợ khám phá) liên quan đến sự sinh ra và biến đổi của ánh
sáng”. Einstein đă ‘bạo gan’ đưa ra “giả thuyết lượng tử ánh sáng”, cho rằng,
ngược với truyền thống hiện hữu rất thành công xem ánh sáng là sóng điện từ, ánh
sáng giờ đây cũng có thể được xem là gồm những hạt mang những gói năng lượng của
Planck: ε =h.ν tùy thuộc vào các tần số của các màu sắc. Khi một
tia sáng truyền năng lượng lên vật chất, chẳng hạn động năng của nó lên một
electron, th́ nó vận hành như được cấu tạo bởi những hạt mang năng lượng h.v
của Planck, mà Einstein gọi là “photon” hay “lượng tử ánh sáng” (quang lượng).
Nếu nó đụng vào một electron, và nếu năng lượng nó đủ mạnh (tia cực tím chẳng
hạn), electron sẽ bị bắn ra khỏi vật chất. Einstein thiết lập được công thức cho
năng lượng mang theo khi electron tách ra (E = hv - P). Bằng cách đó ông
đă giải thích hiện tượng quang điện một cách thuyết phục, một hiện tượng không
giải thích được trong giới vật lư lúc bấy giờ. Einstein kết luận bài báo với câu:
“Những suy nghĩ trên dường như chứng
minh đối với tôi,…,
rằng Ngài Planck trong thuyết bức xạ của ḿnh đă đưa vào vật lư học một nhân
tố gỉa thiết mới, giả thuyết lượng tử.” Nhưng chính điều này Planck lại
không muốn thừa nhận! Ư tưởng của Einstein quá táo bạo khiến Planck trong
một thời gian dài không chấp nhận được. Đối với Planck, ư tưởng photon hay
quang lượng chỉ là “tội lỗi tuổi vị thành niên” của Einstein mà người ta
không nên để ư. Mặt khác, bài báo quan trọng đó cho thuyết lượng tử đă bị
‘nhật thực’ bởi bài báo về thuyết tương đối hẹp của Einstein được công bố
cùng một lúc. Planck đang bị thu hút tuyệt đối bởi thuyết tương đối của
Einstein, hơn cả khám phá lượng tử của chính ḿnh! Ông tin ở đó có cái ǵ
tuyệt đối thú vị: “Tính hấp dẫn của nó (thuyết tương đối) đối với tôi nằm
ở chỗ, tôi nổ lực suy ra từ tất cả những định lư của nó cái tuyệt đối, cái
bất biến vốn nằm tiềm tàng trong đó”. Một trong những cái bất biến thú
vị đă được nhà toán học Minkowski khám phá năm 1907, và được tŕnh bày trong
một bài báo cáo thuyết phục hoàn toàn trước Hội nghị các nhà khoa học và bác
sĩ Đức tại Köln năm 1908 với câu nói bất hủ: “Từ giờ phút này trở đi,
không gian xét riêng và thời gian xét riêng chỉ c̣n là cái bóng, và chỉ có
một thể liên kết của cả hai mới giữ vững được tính độc lập.”
Nhưng bài báo của
Einstein về giả thuyết photon là bước phát triển kế tiếp rất quyết định cho sự
thắng lợi của khái niệm lượng tử. Einstein phải tiếp tục công việc khai phá
miếng đất hoang dă này 20 năm liền, phải chiến đấu như một ‘hiệp sĩ cô đơn’ một
thời gian rất dài chống lại cả một bức tường thành kiến được dựng lên cuối thế
kỷ 19, rồi cuộc chiến đấu lần lượt được tiếp sức bởi Bohr, Heisenberg, Born,
Schrödinger để đưa thuyết lượng tử đến toàn thắng như ngày nay. Những nổ lực của
Planck, người cha đẻ của lượng tử, nhằm đưa đứa con của ḿnh trở về con ‘đường
lành’ cổ điển, phù hợp với tính bảo thủ của ông, đều thất bại “một cách bi
thương” như ông thừa nhận. Ngược lại Planck từng bước bị ‘kéo lê’ đi ngày một xa
hơn trên con đường mà ư tưởng lượng tử của ông đă vạch ra. Planck là một nhà
‘cách mạng miễn cưỡng’. Ông cũng đă từng bảo rằng: “Một
chân lư mới của khoa học thường thắng lợi không phải bằng cách những kẻ chống
đối nó sẽ được thuyết phục và tuyên bố ḿnh được dạy dỗ, mà đúng hơn bằng cách
những kẻ chống đối dần dần chết hết, và thế hệ mới ngay từ đầu được làm quen với
nó.”
Trong khi đó Planck ngày càng bị cuốn hút bởi thuyết tương đối của Einstein.
Planck là người uy tín đầu tiên trong giới khoa học lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ
thuyết tương đối hẹp, một sự ủng hộ mà nếu không có kịp thời, không biết
Einstein và sự nghiệp khoa học của ông c̣n bị che khuất trong bóng tối bao lâu
nữa. Hỏi ra, Planck chưa bao giờ nghe thấy tên tuổi của chàng thanh niên vô danh
Einstein này một lần nào cả trong khoa học.
Ngay trong semina ở Berlin mùa đông
1905/06 Planck đă báo cáo về thuyết tương đối của Einstein, và tháng 3.1906 tại
Hội Vật lư Berlin ông đă nhận xét: “ ‘Nguyên lư tương đối’ được đưa ra gần đây
bởi H.A.Lorentz, và bởi A.Einstein dưới dạng tổng quát hơn, đă đem lại một sự
đơn giản hóa tuyệt vời, nếu nó đúng, cho tất cả các bài toán của điện động học
của các vật thể chuyển động, đến độ câu hỏi về sự kết nạp nó đáng được đặt ra ở
vị trí hàng đầu cho mỗi nghiên cứu lư thuyết trong lănh vực này”. Nếu Einstein
là bà mụ đỡ đầu cho thuyết lượng tử của Planck, rất vất vă, th́ cũng có thể nói,
Planck là bà mụ đỡ đầu rất nhiệt t́nh cho thuyết tương đối của Einstein bằng cả
uy tín của ḿnh, một lư thuyết mà lúc bấy giờ chỉ có vài ba người hiểu.
|

Albert Einstein |

Planck trao Einstein Huy chương
Max Planck ngày 28.6.1929
|
Thời đại vàng của vật lư học Đức
Theo sáng kiến của Planck và Nernst, nhất là do
sự quyết tâm cao độ của Planck, năm 1913 Einstein được mời về Viện hàn lâm Phổ,
Berlin, với những điều kiện cực kỳ ưu đăi. Sự hợp tác giữa Planck và Einstein từ
đó kéo dài gần hai thập niên liền, với lư thuyết tương đối và thuyết lượng tử
làm nền tảng, làm cho Berlin trở thành trung tâm điểm của vật lư lư thuyết của
thế giới. Đó là thời kỳ vàng son của ngành vật lư Đức. Một t́nh bạn nảy
nở giữa hai con người có cá tính rất khác nhau đôi khi đến trái ngược, dựa trên
không phải chỉ những quan tâm khoa học chung, và c̣n trên sự kính trọng và mối
thiện cảm cho nhau. Nhưng thái độ của hai con người lại rất khác nhau đối với
những vấn đề của cuộc đời và thời cuộc. “Einstein, một công dân thế giới không
quê hương, trong
tất cả sự nhân hậu và sẵn sàng giúp đỡ người
luôn luôn không quên ǵn giữ sự độc lập của ḿnh, hoàn toàn không bị ảnh hưởng
bởi môi trường văn hóa và xă hội xung quanh – c̣n Planck, bám rễ sâu vào các
truyền thống gia đ́nh và đất nước của ḿnh, hănh diện về lịch sử của người Đức
và thể hiện tính chất Phổ một cách
ư thức trong thái độ ông đối với
nhà nước. Nhưng những sự khác biệt này không lớn so với những cái
chung: sự hứng thú trong nghiên cứu các bí mật của tự nhiên, sự đồng điệu trong
những nguyên tắc triết học của nhận thức và đạo đức, và đặc biệt của niềm vui
trong âm nhạc. Họ thường chơi đàn với nhau, Planck với cây dương cầm, Einstein
với cây vĩ cầm, trong sự đồng cảm và vui sướng” như Max Born nhận xét.
Einstein-Planck, hai cột trụ của hai cuộc cách mạng vĩ đại trong vật lư của nhân
loại, hai tính cách khác nhau, tuổi tác rất khác nhau, Planck lớn hơn Einstein
21 năm, và lại là hai người bạn rất thân thiết nhau. Người ta nói: Einstein là
thiên tài, Planck là quyền uy. C̣n Sommerfeld ở München là người thầy; ông thu
hút và cung cấp một loạt nhân tài lỗi lạc cho khoa học, trong đó có Heisenberg.
Trong những năm 20, ngành vật lư lư thuyết ở Đức đă phát triển đến thời kỳ tinh
hoa từ ánh hào quang của ba v́ sao sáng này. Thực tế ngành vật lư lư thuyết, mới
ngày nào c̣n non trẻ, sẽ nhanh chóng trở thành ngành ‘khoa học định mệnh’ của
thế kỷ 20.
Vinh quang trong nghiệt ngă
Thời gian trước và sau thế chiến thứ
nhất là gian nan và nghiệt ngă đối với Planck. Ông đă kư tên vào bản kêu gọi của
93 trí thức hàng đầu của giới khoa học và văn hóa của Đức để biện minh cho cuộc
chiến của Đức, rồi chứng kiến sự sụp đổ của chế độ, sự thoái vị của vua Wilhelm,
sự hỗn loạn về kinh tế của nước Đức. Rồi ông phải hứng chịu những đ̣n định mệnh
nặng nề: năm 1909 vợ ông Marie Planck mất sau 22 năm hôn nhân hạnh phúc, với bốn
mặt con; 1916 người con trai lớn Karl của ông chết trận gần Verdun; năm sau
người con gái Grete chết khi sinh đứa con thứ nhất; hai năm sau, người con gái
sinh đôi Emma cùng với Grete, sau khi lấy người chồng góa của Grete, cũng chết
giống như thế trên giường sinh. Planck đau khổ tột cùng. Ông viết cho Hendrik
Lorentz: “Bây giờ tôi khóc cho những đứa con thân yêu tha thiết của tôi, và
cảm thấy bị cướp đọat, và nghèo đi. Có những lúc tôi nghi ngờ giá trị của chính
cuộc sống”. Ông tự an ủi ḿnh “rằng con người không có quyền được hưởng
những điều tốt đẹp”. Einstein không cầm được nước mắt khi đến thăm Planck:
“ông ấy giữ ḿnh đứng thẳng và can đảm tuyệt vời, nhưng người ta thấy nổi đau
gậm nhấm ở ông”. Planck nếm
trải kinh nghiệm đắng cay mà nhà thần bí Meister Eckardt đă diễn tả: “Con
ngựa nhanh nhất mang chúng ta đến sự hoàn thiện, đó là sự đau khổ”.
Năm 1919 ông được
công nhận giải Nobel vật lư cho năm 1918. Phải cần đến gần hai thập kỷ để Quỹ
Nobel ở Stockholm công nhận phát minh vĩ đại của Planck! [Einstein cũng phải chờ
đến 17 năm, sau Planck.] Có lẽ v́ những phát minh như của Planck, Einstein có
gía trị nhiều về lư thuyết hơn về ứng dụng là điều được ghi trong di chúc của
A.Nobel!? Thực tế không phải thế. Planck được những nhà vật lư tên tuổi đề nghị
như Lorentz, Einstein, Born, Wien và Sommerfeld; ông này cho rằng vật lư đă trở
thành một vật lư của lượng tử. Đối mặt với sự thật là thuyết lượng tử ngày càng
chứng tỏ sự thành công trong nhiều lănh vực của vật lư, và rằng, như Laue chỉ
trích, giải Nobel không thể phát cho những công tŕnh trên lănh vực vật lư lượng
tử đang lên, bao lâu Planck không được công nhận, ủy ban Nobel cuối cùng đă từ
bỏ quan điểm cho rằng, những khám phá của Planck chưa đưa đến một lư thuyết nhất
quán!
Năm 1929 để vinh danh Planck, huy chương cao
quư nhất của ngành vật lư Đức, Huy chương Max-Planck của Hội Vật lư Đức ra đời,
và hai người đầu tiên được vinh dự đón nhận là Max Planck và Albert Einstein.
|

Max Planck với vợ Marie, hai con gái
sinh đôi Emma và Grete, con trai Karl lớn, và con trai út Erwin, khoảng
1900.
|
Planck và đệ tam đế chế
Sự nắm quyền của quốc xă năm 1933 chấm dứt thời đại vàng son của ngành vật lư,
cũng như tất cả các ngành khoa học của Đức nói chung. Hitler làm một cuộc thanh
lọc toàn diện, đặc biệt ở tất cả các đại học và viện nghiên cứu. Một cuộc di tản
khổng lồ của những người làm khoa học (và không phải chỉ có khoa học) sang các
nước khác diễn ra, đặc biệt sang Mỹ. Einstein lúc đó may mắn đang ở Mỹ. Ông
tuyên bố rút ra khỏi hàn lâm viện Phổ, để tránh cho các bạn ông và Planck khỏi
sự khó xử sẽ đến.
Trong một cuộc họp sau đó, Planck viết những lời sau đây về Einstein như để giăi
bày với đời sau: “Tôi tin tôi phát biểu trong sự đồng t́nh của các đồng
nghiệp chuyên môn của tôi và của tuyệt đại đa số tất cả nhà vật lư khi nói những
điều sau đây: Ngài Einstein không chỉ là một trong nhiều nhà vật lư xuất sắc, mà
Ngài Einstein c̣n là nhà vật lư mà qua những công tŕnh đă được công bố của
Ngài trong Hàn lâm viện, nhận thức vật lư trong thế kỷ chúng ta đă có sự thay
đổi sau sắc mà ư nghĩa của nó chỉ có thể so sánh với những công tŕnh của
Johannes Kepler và Newton. Tôi sở dĩ nói điều này là để hậu thế không nghĩ rằng
các đồng nghiệp hàn lâm của Ngài Einstein không có khả năng đánh giá tầm quan
trọng của Ngài đối với khoa học.” Khi Fritz Haber, nhà hóa học Đức gốc Do
Thái đă có phát minh độc đáo là “lấy được bánh ḿ từ khí trời”, một người rất
yêu nước, vào ‘có công’ là sử dụng vũ khí hóa học đầu tiên trong thế chiến thứ
nhất, lănh giải Nobel hóa học cùng năm với Planck, chết v́ bệnh và kiệt sức trên
đường lưu vong, Planck tổ chức lễ truy điệu, trong sự bao vây và cấm đoán của
quốc xă. “Tôi tổ chức buổi lễ này, trừ khi cảnh sát bắt tôi đi”. Và
Planck thực hiện buổi lễ truy điệu, với đầy ắp những người tham gia. Trên bục
diễn văn ông phải đưa cánh tay phải lên đến lần thứ ba mới nói được hai chữ
“Heil Hitler” (“Vạn tuế Hilter”). Planck kết thúc bài diễn văn với câu nói
“Haber đă chung thủy với chúng ta, chúng ta sẽ chung thủy với ông ấy”. Ông
đă xin gặp Hitler để can thiệp cho các nhà khoa học gốc Do Thái, nhưng hoài
công. Ông công khai phản đối sự truy bức người Do Thái và ra sức bảo vệ danh dự
họ, giúp đỡ họ, và bị tố khổ ác liệt bởi các tay sai của Hitler trong khoa học
như Stark và Lenard.
Tháng 9
năm 1939 quân đội Đức kéo lê sự chết chóc và tàn phá vào hết nước này đến nước
khác của châu Âu. Planck, ở tuổi 81, viết cho Laue: “Ḥa b́nh không đến gần
mà lại đi xa. Sự mất trí này, sự tự sát này của giống loài được ca tụng của
chúng ta, c̣n kéo dài đến bao giờ nữa? T́nh h́nh là tuyệt vọng. Nhưng tôi vẫn
luôn c̣n hy vọng - chứng kiến kết cục”.
|

Erwin Planck trước ṭa án nhân dân
của quốc xă năm 1945 |

Thư viện của Max Planck tại nhà riêng
ở Berlin. Năm 1944 nó bị phá hủy hoàn toàn trong những cuộc dội bom của
quân đội đồng minh. |
‘Không có quyền hạnh phúc’
Planck chứng kiến được kết cục, nhưng đau khổ biết bao. Năm 1944 ngôi nhà đầy kỷ
niệm với những tư liệu cực kỳ quư báu của Planck ở đường Wagenheimstrasse,
Berlin, trong đó có thư viện, thư tín và các quyển nhật kư, bị phá hủy hoàn toàn
bởi các cuộc không kích của đồng minh. Lúc đó ông đă được di tản sang nơi khác.
Năm 1945, trước khi chiến tranh kết thúc, đứa con trai út Erwin thương yêu nhất
c̣n lại của ông bị quốc xă hành quyết v́ có tên trong danh sách của một tổ chức
lật đổ Hitler. Planck lặng người đi. Lúc đó ông đă 87 tuổi. Ông ngồi vào cây đàn
dương cầm, đánh lên những điệu nhạc mà con trai của ông hằng ưa thích. “Sự
đau đớn của tôi không thể diễn tả được bằng lời…Tôi lại cố gắng ngày qua ngày,
để có lại sức, để cam chịu với số phận này. Bởi v́ với mỗi ngày lên, một ngọn
đ̣n mới đến với tôi, làm tôi tê tái, và làm mờ đi ư thức sáng sủa của tôi. Sẽ
c̣n lâu tôi mới trở lại sự quân b́nh tinh thần. Bởi v́ nó là một phần quư báu
của đời tôi. Nó là tia sáng mặt trời, niềm hănh diện của tôi, niềm hy vọng của
tôi. Cái tôi đă mất đi theo nó, không thể nào được diễn tả bằng lời.” Nỗi
đau kinh hoàng, định mệnh nghiệt ngă như đă bắt Planck phải chịu đựng vào giờ
phút cuối đời như thể những đau khổ trước đó vẫn chưa đủ. “Tôi
rất cố gắng t́m lại sức ḿnh, để khỏi lịm đi trước đau thương. Điều giúp tôi ở
đây là tôi xem như một ân huệ từ bên trên, rằng kể từ lúc tuổi thơ niềm tin vững
chắc, không ǵ lay chuyển, vào đấng toàn năng, toàn thiện đă bám rễ trong tôi.
Dĩ nhiên, con đường của ngài không phải là con đường của chúng ta; nhưng niềm
tin vào ngài giúp chúng ta vượt qua được những thử thách lớn nhất.”
Một
tổ chức khoa học mới
Khi chiến tranh chấm dứt, với sự giúp đỡ của bạn bè, Planck trở về sống ở
Göttingen, thành phố của các người tiền thân của ông. Berlin giờ đây chỉ c̣n là
đống gạch vụn. Ông ra sức cứu văn và tái thiết Tổ chức khuếch trương khoa học
Kaiser-Wilhelm-Gesellschaft như quan tâm hàng đầu, mặc dù sức khỏe ông đă
giảm sút nặng từ nhiều năm do bệnh tuổi già. Phần lớn các Viện Kaiser-Wilhelm bị
phá hủy, các thành viên hoặc bị trục xuất, chết hay mất tích; c̣n vị chủ tịch
cuối cùng của Tổ chức th́ cũng tự tử sau khi chế độ quốc xă sụp đổ. Từ những chủ
tịch th́ chỉ c̣n lại có Planck, và ông chính là niềm hy vọng duy nhất để tập hợp
lực lượng và cứu sống lại Tổ chức. Tháng 9.1945 các viện được phép hoạt động trở
lại. Planck nhận lời làm “chủ tịch danh dự” của Kaiser-Wilhelm-Gesellschaft
tương lai.
Tháng 7, 1946 Hàn
lâm viện Anh tổ chức lễ kỷ niệm sinh nhật thứ 300 của Isaac Newton. Lễ này đáng
lẽ đă được tổ chức năm 1942, nhưng bị hoăn lại v́ những lư do chiến tranh.
Planck là nhà khoa học Đức duy nhất được mời tham dự. Một máy bay quân sự Anh
đă đưa ông và vợ sang London. Tại buổi lễ, Planck được cộng đồng khoa học thế
giới chào đón nồng nhiệt và kính cẩn nhất như người đại diện của một ‘nước Đức
khác’. Người ta vẫn không quên những đóng góp khoa học lớn lao của ông và thái
độ phảng kháng tích cực của ông trong thời đệ tam đế chế. Một sự kiện nhỏ diễn
ra đă làm ông không vui. Người giới thiệu chương tŕnh giới thiệu tên tuổi của
các nhà khoa học thế giới như những đại diện của quốc gia họ. Đến lượt Planck
th́ người đó ngập ngừng một hồi rồi mới tiếp: Giáo sư Planck, đại diện của “No
country”! Người ta kể, ông cảm thấy bị tổn thương nặng nề.
Ngày 11 tháng 9
năm 1946 “Tổ chức nghiên cứu Max-Planck-Gesellschaft nhằm khuếch trương khoa
học” được chính thức ra đời tại Bad Driburg, thay thế cho Kaiser-Wilhelm-Gesellschaft
cũ, thể theo nguyện vọng của những người thành lập, và cũng phù hợp với ư muốn
của chính quyền quân sự lâm thời Anh trong vùng quản lư, không muốn thấy cái tên
của vua Wilhelm là biểu tượng của chủ nghĩa quân phiệt. Max Planck là chủ tịch
danh dự của tổ chức. Không c̣n cái tên nào phù hợp hơn, không c̣n ai xứng đáng
hơn để đặt cho tổ chức. Trong bài phát biểu ngắn trước máy quay phim của báo chí
để cám ơn những người thành lập là những nhà khoa học được giải Nobel c̣n lại,
và để đáp lại sự chúc mừng và ca ngợi của họ, ông nhiều lần đă nghẹn lời.
Ra
đi
Ông tiếp tục đi diễn thuyết. “Về
mặt khoa học, với tuổi 89 tôi không c̣n sáng tạo nữa; cái c̣n lại là khả năng
tôi theo dơi các tiến bộ khoa học mà công tŕnh của tôi đă đặt nền móng, và
thỉnh thoảng, bằng sự lập lại các bài diễn thuyết của tôi, đáp ứng nguyện vọng
của những người nổ lực đi t́m chân lư và nhận thức, nhất là tuổi trẻ.” Một
trong những vị khách cuối cùng đến thăm Planck tháng 7 năm 1947 đă ghi lại vài
h́nh ảnh và cảm nghĩ: “Tôi không thể nào quên được ấn tượng khi đứng trực diện
với một dáng đứng c̣ng lưng của một con người già nua, bước đi ngập ngừng, với
cái mũ vải dẹt, và cây gậy”. Tuy ông không tiếp khách được lâu, nhưng không v́
thế mà ông “làm giảm đi ấn tượng lớn của một nhân cách, dù đă ở tuổi cao và mặc
cho những khó khăn thể xác nhưng cũng vẫn c̣n gây ấn tượng mạnh, trong khi cuộc
vật lộn tinh thần của cả một đời dài đă in sâu vào các vết hằn trên khuôn mặt
ông, và đă h́nh thành một tấm gương trong sáng của tâm hồn một con người vĩ đại.
Nó ḥa lẫn với sự khiêm tốn chưa từng có, điều cũng không thể xóa đi sự vĩ đại
của tư chất ông như một nhà nghiên cứu và một con người, dù trong một phút giây.
Ngược lại: Đứng trước tôi là một trong những con người vĩ đại của thế giới trí
tuệ mà bi kịch cá nhân đă không lấy đi được chút nào của nhân cách.”
Vào những ngày
cuối đời, ông nói nhiều về cuộc đời, về Thượng Đế và thế giới: “Chịu đựng can
đảm trong cuộc chiến đấu cho cuộc đời, và âm thầm tuân thủ sự điều khiển của một
quyền lực cao hơn ngự trị trên chúng ta”. Ông “không thuộc những người để
ḿnh cay đắng” và biết“vượt cao khỏi thế giới này”.
Ngày 4.10.1947
ông vĩnh viễn ra đi sau những giờ phút đau đớn. Quan tài được quàn ba ngày tại
nhà thờ thành phố Göttingen. Người đến viếng đông chật ních. Otto Hahn, lúc này
đă nhận xong giải Nobel cho hiện tượng phân hạch của ḿnh năm 1938, và Max von
Laue, người học tṛ được yêu quư nhất của Planck và được giải Nobel trước cả
thầy ḿnh, đọc điếu văn. Laue đứng bên cạnh quan tài được phủ đầy những ṿng hoa,
nghẹn lời trong nước mắt: “Và ở kia c̣n một ṿng hoa tang giản dị. Tôi đă đặt nó
xuống để thay mặt cho toàn thể những học tṛ mà tôi là một thành viên trong đó,
như một dấu tích phù vân của t́nh yêu và ḷng biết ơn vĩnh cửu của chúng tôi.”
Quan tài ông được
các sinh viên vật lư khiêng ra xe và đưa về nghĩa trang thành phố.
Trong những lá
thư chia buồn từ khắp nơi trên thế giới gửi về bà góa phụ Marga Planck, người vợ
thứ hai của ông, có một lá thư gửi từ Princeton, N.J., của Albert Einstein:
“Bây giờ cũng đến lượt chồng Bà hoàn tất những ngày của ông ta,
sau khi ông ấy đă làm được cái vĩ đại và nếm trải cái đắng cay. Đó là một thời
gian đẹp và thành công mà tôi được phép cùng trải nghiệm trong sự gần gủi với
ông ấy. Mắt ông hướng về những cái vĩnh cửu, nhưng ông vẫn dự phần hàng ngày vào
tất cả những ǵ thuộc về phạm vi con người và thời đại. Thế giới con người sẽ
khác đi và tốt đẹp biết bao, nếu có nhiều hơn những người lănh đạo như ông.
Nhưng điều đó dường như không thể có được. Những tính cách cao thượng trong mỗi
thời đại và ở khắp nơi vẫn luôn bị cô lập, không thể ảnh hưởng được cuộc đời bên
ngoài.
Những giờ phút tôi được phép trải qua ở nhà của Ông Bà, những cuộc tṛ chuyện mà
tôi đă thực hiện riêng với con người tuyệt vời, sẽ thuộc về những kỷ niệm đẹp
nhất trong phần đời c̣n lại của tôi. Điều đó vẫn đúng, mặc dù một biến cố bi
thảm đă chia cắt chúng tôi.
Tôi cầu chúc Bà
trong những ngày cô đơn t́m thấy niềm an ủi rằng Bà đă đem ánh sáng và sự hài
ḥa vào đời của con người được kính yêu. Từ xa tôi xin chia sẻ với Bà nỗi đau
của cuộc chia ly.”
Planck đă đi t́m cái vĩnh cửu, tuyệt đối. Và ông đă được toại nguyện: những khám
phá vĩ đại của ông trong khoa học, thuyết lượng tử, hằng số tác động h,
cùng với tên tuổi của ông đă trở thành những cái vĩnh cửu, tuyệt đối trong vũ
trụ và thế giới chúng ta. Hằng số h, với trị số của nó, được khắc lên bia
mộ của ông tại nghĩa trang thành phố của Göttingen như biểu tượng của một khám
phá vĩnh hằng đă theo ông suốt cuộc hành tŕnh gian khổ.
|

Thư chia buồn của A.
Einstein gửi bà Marga Planck.
(Nguồn:
Vorträge, Reden und Erinnerungen)
|

Huy chương Max Planck
|
1 Xin xem thêm chi tiết trong
quyển Einstein, NXB Thành phố, của tác giả.
|