|
QUỐC
HỘI
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Khoá X, kỳ họp thứ 4
(từ ngày 28 tháng 10
đến ngày 2 tháng 11 năm 1998)
LUẬT GIÁO DỤC
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của nhà nước và của
toàn dân.
Để
phát triển sự nghiệp giáo dục, tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước về
giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ
quốc, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh;
Căn
cứ vào hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật này quy định
về tổ chức và hoạt động giáo dục.
CHƯƠNG I
NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
của Luật Giáo dục
Luật giáo dục quy định về
hệ thống giáo dục quốc dân; nhà trường, cơ sở giáo dục khác của hệ thống
giáo dục quốc dân, của cơ quan hành chính nhà nước, của tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị-xã hội, của lực lượng vũ trang nhân dân; tổ chức, cá nhân
tham gia hoạt động giáo dục
Điều 2. Mục tiêu giáo dục
Mục tiêu giáo dục là đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức sức khỏe, thẩm mỹ
và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hình thức và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân,
đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Điều 3. Tính chất, nguyên lý
giáo dục.
1. Nền giáo dục Việt Nam là nền
giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy
chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.
2. hoạt động giáo dục phải được
thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động
sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục trường kết hợp với giáo
dục gia đình và giáo dục xã hội.
Điều 4. Yêu cầu về nội dung,
phương pháp giáo dục
1. Nội dung giáo dục phải đảm
bảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi trọng
giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; bảo tồn và phát huy truyền thống tốt
đẹp, bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự
phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học.
2. Phương pháp giáo dục phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học;
bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.
3. Nội dung, phương pháp giáo
dục phải được thể hiện thành chương trình giáo dục; chương trình giáo dục
phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa, giáo trình. Chương trình giáo
dục, sách giáo khoa, giáo trình phải phù hợp với mục tiêu giáo dục của từng
bậc học, cấp học và từng trình độ đào tạo, bảo đảm tính ổn định và tính
thống nhất.
Điều 5. Ngôn ngữ dùng trong
nhà trường
1. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính
thức dùng trong nhà trường
2. Nhà nước tạo điều kiện để
người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Việc
dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy
định của Chính phủ.
Điều 6. Hệ thống giáo dục
quốc dân
Hệ thống giáo dục quốc dân gồm:
1. Giáo dục mầm non có nhà trẻ
và mẫu giáo;
2. Giáo dục phổ thông có hai bậc
học là bậc tiểu học và bậc trung học có hai cấp học là cấp trung học cơ sở
và cấp trung học phổ thông;
3. Giáo dục nghề nghiệp có trung
học chuyên nghiệp và dạy nghề;
4. Giáo dục đại học đào tạo hai
trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ đại học; giáo dục sau đại học đào
tạo hai trình độ là trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ.
Phương thức giáo dục gồm giáo
dục chính quy và giáo dục không chính quy.
Điều 7. Văn bằng, chứng chỉ
1. Văn bằng của hệ thống giáo
dục quốc dân được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp bậc học, cấp học hoặc
trình độ đào tạo theo quy định của Luật này.
Văn bằng của hệ thống giáo dục
quốc dân gồm bằng tốt nghiệp tiểu học, bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng
tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp,
bằng tốt nghiệp đào tạo nghề, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại
học, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ.
2. Chứng chỉ của hệ thống giáo
dục quốc dân được cấp cho người học để xác nhận kết quả học tập sau khi được
đào tạo hoặc bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp
Điều 8. Phát triển giáo dục
Phát triển giáo dục phải
gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, tiến bộ khoa học-công nghệ, củng
cố quốc phòng, an ninh; bảo đảm cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành
nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở bảo đảm chất lượng và hiệu
quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng.
Điều 9. Quyền và nghĩa vụ học tập của công dân
Học tập là quyền và nghĩa vụ của
công dân.
Mọi công dân không phân biệt dân
tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội hoặc
hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập.
Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng
được học hành. Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập,
bảo đảm điều kiện để những người học giỏi phát triển tài năng.
Nhà nước ưu tiên, tạo điều
kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng có điều kiện kinh
tế-xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng hưởng chính sách ưu đãi, người tàn
tật và đối tượng hưởng chính sách xã hội
khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của
mình.
Điều 10. Phổ cập giáo dục
1. Nhà nước quyết định kế hoạch
và trình độ giáo dục phổ cập, có chính sách bảo đảm các điều kiện để thực
hiện phổ cập giáo dục trong cả nước.
2. Mọi công dân trong độ tuổi
quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập.
3. Gia đình có trách nhiệm tạo
điều kiện cho các thành viên trong độ tuổi quy định của gia đình mình được
học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập.
Điều 11. Xã hội hóa sự nghiệp
giáo dục
Mọi tổ chức, gia đình và công
dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dụng phong trào học
tập và môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục
tiêu giáo dục.
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo
trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình nhà
trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để
tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục.
Điều 12. Đầu tư cho giáo dục
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư
phát triển
Nhà nước ưu tiên đầu tư và
khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục
Ngân sách nhà nước phải giữ vai
trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục.
Điều 13. Quản lý nhà nước về
giáo dục
Nhà nước thống nhất quản lý hệ
thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo
dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng.
Điều 14. Vai trò của nhà giáo
Nhà giáo giữ vai trò quyết định
trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục.
Nhà giáo phải không ngừng học
tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học.
Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi
dưỡng nhà giáo; có chính sách bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và
tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm vụ của mình; giữ gìn và phát huy
truyền thống quý trong nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học.
Điều 15. Nghiên cứu khoa học
1. Nhà nước tạo điều kiện cho
nhà trường tổ chức nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến khoa học, công nghệ; kết
hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục và phục vụ xã hội, từng bước thực hiện vai trò trung tâm văn hóa,
khoa học, công nghệ của địa phương hoặc của cả nước.
2. Trường cao đẳng, trường đại
học, viện nghiên cứu khoa học, cơ sở sản xuất có trách nhiệm phối hợp trong
việc đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ phát
triển kinh tế-xã hội.
3. Nhà nước có chính sách ưu
tiên phát triển nghiên cứu, ứng dụng và phổ biến khoa học giáo dục. Các chủ
trương, chính sách về giáo dục phải được xây dựng trên cơ sở kết quả nghiên
cứu khoa học giáo dục, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Điều 16. Không truyền bá tôn
giáo trong các trường, cơ sở giáo dục khác
Không truyền bá tôn giáo, tiến
hành các nghi thức tôn giáo trong các trường, cơ sở giáo dục khác của hệ
thống giáo dục quốc dân, của cơ quan hành chính nhà nước, của tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị-xã hội, của lực lượng vũ trang nhân dân.
Điều 17. Cấm lợi dụng các
hoạt động giáo dục
Cấm lợi dụng các hoạt động giáo
dục để xuyên tạc chủ chương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc,
kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, phá hoại thuần phong
mỹ tục, truyền bá mê tín, hủ tục, lôi kéo người học váo các tệ nạn xã hội.
Cấm mọi hành vi thương mại hóa
hoạt động giáo dục.
CHƯƠNG II
HỆ THỐNG
GIÁO DỤC QUỐC DÂN
Mục 1
GIÁO DỤC MẦM NON
Điều 18. Giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non thực hiện việc
bồi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.
Điều 19. Mục tiêu của giáo
dục mầm non
Mục tiêu của giáo dục mầm non là
giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành
những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một.
Điều 20. Yêu cầu về nội dung,
phương pháp giáo dục mầm non
1. Nội dung giáo dục mầm non
phải bảo đảm hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, phù hợp với sự
phát triển tâm sinh lý của trẻ em; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối,
khỏe mạnh, nhanh nhẹn; biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ,
thầy cô giáo và người trên; yêu kính anh, chị, em, bạn bè, thật thà, mạnh
dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học.
2. Phương pháp chủ yếu trong
giáo dục mầm non là thông qua việc tổ chức các hoạt động vui chơi để giúp
trẻ em phát triển toàn diện; chú trọng việc nêu gương, động viên, khích lệ.
Điều 21. Cơ sở giáo dục mầm
non
Cơ sở giáo dục mầm non gồm:
1. Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ từ
ba tháng tuổi đến ba tuổi;
2. Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ
em từ ba tuổi đến sáu tuổi;
3. Trường mầm non là cơ sở giáo
dục kết hợp nhà trẻ và trường mẫu giáo, nhận trẻ từ ba tháng tuổi đến sáu
tuổi.
Mục 2
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
Điều 22. Giáo dục phổ thông
Giáo dục phổ thông gồm:
1. Giáo dục tiểu học bậc học bắt
buộc đối với mọi trẻ em từ sáu đến mười bốn tuổi; được thực hiện trong năm
năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu
tuổi;
2. Giáo dục trung học cơ sở được
thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín. Học sinh vào học lớp
sáu phải có bằng tổt nghiệp tiểu học, có tuổi là mười một tuổi;
3. Giáo dục trung học phổ thông
được thực hiện trong ba năm học, từ lớp sáu đến lớp mười hai. Học sinh vào
học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là mười lăm
tuổi.
Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định
những trường hợp có thể bắt đầu học ở tuổi cao hơn tuổi quy định tại khoản
1, 2 và 3 Điều này.
Điều 23. Mục tiêu của giáo
dục phổ thông
Mục tiêu của giáo dục phổ thông
là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh
tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ
tổ quốc.
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học
sinh hình thành những cơ sở đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo
đức, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng có bản để học sinh tiếp tục học trung
học cơ sở.
Giáo dục trung học cơ sở nhằm
giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có
trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và
hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp.
học nghề đi vào cuộc sống lao động.
Giáo dục trung học phổ thông
nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung
học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về
kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Điều 24. Yêu cầu về nội dung,
phương pháp giáo dục phổ thông
1. Nội dung giáo dục phổ thông
phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và hệ thống;
gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh,
đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi bậc học, cấp học.
Giáo dục tiểu học phải bảo đảm
cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con
người; có kỹ năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết và tính toán; có thói quen
rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm
nhạc, mỹ thuật.
Giáo dục trung học cơ sở
phải củng cố, phát triển những nội
dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ
bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội,
khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần
thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp.
Giáo dục trung học phổ thông
phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành
nội dung giáo dục phổ thông. Ngoài nội dung chủ yểu nhằm bảo đảm chuẩn kiến
thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có
nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện
vọng của học sinh.
2. Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh;
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự
học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
3. Nội dung, phương pháp giáo
dục phổ thông được thể hiện thành chương trình giáo dục do Bộ Giáo dục và
Đào tạo quyết định ban hành.
Điều 25. Sách giáo khoa
1. Sách giáo khoa phải thể hiện
mục tiêu, nguyên lý giáo dục, cụ thể hóa nội dung, phương pháp giáo dục quy
định trong chương trình giáo dục của từng bậc học, cấp học, lớp học.
2. Sách giáo khoa do Bộ Giáo dục
và Đào tạo tổ chức biên soạn và duyệt trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc
gia thẩm định sách giáo khoa để sử dụng chính thức, thống nhất, ổn định
trong giảng dạy, học tập ở nhà trường và các cơ sở giáo dục khác.
3. Nhà nước quản lý việc xuất
bản, in và phát hành sách giáo khoa.
Điều 26. Cơ sở giáo dục phổ
thông
Cơ sở giáo dục phổ thông gồm:
1. Trường tiểu học;
2. trường trung học cơ sở;
3. Trường trung học phổ thông;
4. Trung tâm kỹ thuật tổng
hợp-hướng nghiệp.
Điều 27. Văn bằng giáo dục phổ thông
1. Học sinh học hết chương trình
tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông có đủ điều kiện theo quy định
của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì được cấp
bằng tốt nghiệp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.
2. Trưởng phòng Bộ Giáo dục và
Đào tạo huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp
huyện) cấp bằng tổt nghiệp tiểu học.
Giám đốc Sở giáo dục và Đào tạo
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) cấp
bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.
Mục 3
GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Điều 28. Giáo dục nghề nghiệp
1. Trung học chuyên nghiệp được
thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học
cơ sở, từ một đến hai năm học đối với người có bằng tổt nghiệp trung học phổ
thông;
2. Dạy nghề dành cho người có
trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học; được thực hiện dưới
một năm đối với các chương trình dạy nghề ngắn hạn, từ một đến ba năm đối
với các chương trình dạy nghề dài hạn.
Điều 29. Mục tiêu của giáo
dục chuyên nghiệp
Mục tiêu của giáo dục nghề
nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghệ nghiệp ở các
trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác
phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả
năng tìm việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc
phòng, an ninh.
Giáo dục trung học chuyên nghiệp
nhằm đào tạo kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ có kiến thức và kỹ năng nghề
nghiệp ở trình độ trung cấp.
Dạy nghề nhằm đào tạo người lao
động có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp phổ thông, công nhân kỹ thuật, nhân
viên nghiệp vụ.
Điều 30. Yêu cầu về nội dung
phương pháp giáo dục nghề nghiệp
1. Nội dung giáo dục nghề nghiệp
phải tập trung vào đào tạo năng lực nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đào tạo,
rèn luyện sức khỏe, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo.
2. Phương pháp giáo dục nghề
nghiệp phải kết hợp với giảng dạy lý thuyết với rèn luyện kỹ năng thực hành,
bảo đảm sau khi tốt nghiệp người học có khả năng hành nghề.
3. Nội dung, phương pháp giáo
dục nghề nghiệp phải được thể hiện thành chương trình giáo dục
Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp
với các Bộ chuyên ngành quy định chương trình khung về giáo dục trung học
chuyên nghiệp gồm cơ cấu, nội dung, số môn học, thời lượng các môn học, tỷ
lệ thời gian giữa lý thuyết và thực hành, thực tập đối với từng ngành, nghề
đào tạo. Căn cứ vào chương trình khung, trường trung học chuyên nghiệp xác
định chương trình giáo dục của trường mình.
Cơ quan quản lý nhà nước về dạy
nghề quy định về nguyên tắc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình dạy
nghề.
Điều 31. Giáo trình trung học
chuyên nghiệp, giáo trình dạy nghề dài hạn
1. Giáo trình trung học chuyên
nghiệp, giáo trình dạy nghề dài hạn phải thể hiện mục tiêu, nguyên lý giáo
dục, cụ thể hóa nội dung, phương pháp giáo dục, quy định trong chương trình
giáo dục trung học chuyên nghiệp, chường trình dạy nghề dài hạn.
2. giáo trình trung học chuyên
nghiệp, giáo trình dạy nghề dài hạn do Hiệu trưởng nhà trường tổ chức biên
soạn và duyệt trên cơ sở thẩm định của hội đồng thẩm định giáo trình do Hiệu
trưởng thành lập để sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập chính thức trong
nhà trường.
Điều 32. Cơ sở giáo dục nghề
nghiệp
1. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp
gồm:
a) Trường trung học chuyên
nghiệp;
b) Trường dạy nghề, trung tâm
dạy nghề, lớp dạy nghề (sau đây gọi chung là cơ sở dạy nghề).
2. Cơ sở dạy nghề có thể được tổ
chức độc lập hoặc gắn với cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, cơ sở giáo dục
khác.
Điều 33. Văn bằng, chứng chỉ
giáo dục nghề nghiệp
1. Học sinh học hết chương trình
trung học chuyên nghiệp, chương trình dạy nghề dài hạn, có đủ điều kiện theo
quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì
được cấp bằng tốt nghiệp.
Học sinh học hết chương trình
dạy nghề ngắn hạn, chương trình bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề tại các
trường trung học chuyên nghiệp, có đủ điều kiện theo quy định được dự kiểm
tra để lấy chứng chỉ.
2. Hiệu trưởng trường trung học
chuyên nghiệp cấp bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, bằng tốt nghiệp
đào tạo nghề, chứng chỉ nghề.
Hiệu trưởng trường dạy nghề cấp
bằng tốt nghiệp đào tạo nghề, chứng chỉ nghề; Giám đốc trung tâm dạy nghề
cấp chứng chỉ nghề.
Mục 4
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ SAU ĐẠI HỌC
Điều 34. Giáo dục đại học và
sau đại học
Giáo dục đại học và sau đại học
gồm:
1. Giáo dục đại học đào tạo
trình độ cao đẳng và trình độ đại học:
a) Đào tạo trình độ cao đẳng
được thực hiện trong ba năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học
phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp;
b) Đào tạo trình độ đại học được
thực hiện từ bốn đến sáu năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người
có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tổt nghiệp trung học chuyên
nghiệp; từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng
cùng chuyên ngành.
2. Giáo dục sau đại học đào tạo
trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ:
a) Đào tạo trình độ thạc sĩ được
thực hiện trong hai năm đối với người có bằng tốt nghiệp đại học.
b) Đào tạo trình độ tiến sĩ được
thực hiện trong bốn năm đối với người có bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến
ba năm đối với người có bằng thạc sĩ. Trong trường hợp đặc biệt, thòi gian
đào tạo trình độ tiến sĩ có thể được kéo dài theo quy định của Bộ Giáo dục
và Đào tạo.
c) Chính phủ quy định cụ thể
việc đào tạo sau đại học ở một số ngành nghề môn đặc biệt.
Điều 35. Mục tiêu của giáo
dục đại học và sau đại học
Mục tiêu của giáo dục đại học và
sau đại học là đào tạo con người có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức
phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng
với trình độ đào tạo, sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đào tạo trình độ cao đẳng giúp
sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản về một ngành
nghề , có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành
được đào tạo.
Đào tạo trình độ đại học giúp
sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản về một ngành
nghề , có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành
được đào tạo.
Đào tạo trình độ thạc sĩ giúp
học viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản về một ngành
nghề , có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành
được đào tạo.
Đào tạo trình độ tiến sĩ
giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết và thực hành, có năng lực
nghiên cứu độc lập, sáng tạo, giải
quyết những vấn đề khoa học-công nghệ và hướng dẫn hoạt động chuyên môn.
Điều 36. Yêu cầu về nội dung,
phương pháp giáo dục đại học và sau đại học
Yêu cầu về nội dung, phương pháp
giáo dục đại học và sau đại học được quy định như sau:
1. Đối với giáo dục đại học:
a) Nội dung giáo dục đại học
phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức
khoa học cơ bản với kiến thức chuyên ngành và các bộ môn khoa học Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống tôt đẹp, bản sắc văn
hóa dân tộc, tương ứng với trình độ chung của khu vực và trên thế giới.
Đào tạo trình độ cao đẳng phải
bảo đảm cho sinh viên có những kiến thức khoa học cơ bản và chuyên ngành cần
thiết; chú trọng rèn luyện kỹ năng cơ bản và năng lực thực hiện công tác
chuyên môn.
Đào tạo trình độ đại học phải
bảo đảm cho sinh viên có những kiến thức khoa học cơ bản và chuyên ngành
tương đối hoàn chỉnh; có phương pháp làm việc khoa học; có năng lực vận dụng
lý thuyết vào công tác chuyên môn.
b) Phương pháp giáo dục đại học
phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện
cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham
gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng.
c) Nội dung, phương pháp giáo
dục đại học được thể hiện thành chương trình giáo dục. Bộ Giáo dục và Đào
tạo quy định chương trình chung gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian
đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học cơ bản và chuyên
ngành; giữa lý thuyết với thực hành, thực tập. Căn cứ vào chương trình
khung, trường cao đẳng, trường đại học xác định chương trình giáo dục của
trường mình.
2. Đối với giáo dục sau đại học:
a) Nội dung giáo dục sau đại học
phải giúp cho người học phát triển và hoàn thiện kiến thức khoa học cơ bản,
kiến thức chuyên ngành, các bộ môn khoa học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh; phát huy năng lực sáng tạo, phát triển và giải quyết các vấn đề thuộc
chuyên ngành đào tạo; có khả năng đóng góp vào sự phát triển khoa học, công
nghệ, kinh tế-xã hội của đất nước.
Đào tạo trình độ thạc sĩ bảo đảm
cho học viên được bổ sung và nâng cao những kiến thức đã học ở trình độ đại
học; tăng cường kiến thức liên ngành; có đủ năng lực thực hiện công tác
chuyên môn và nghiên cứu khoa học trong chuyên ngành của mình.
Đào tạo trình độ tiến sĩ phải
bảo đảm cho nghiên cứu sinh nâng cao và hoàn chỉnh kiến thức cơ bản; có hiểu
biết sâu về kiến thức chuyên ngành; có đủ năng lực tiến hành độc lập công
tác nghiên cứu khoa học và sáng tạo trong công tác chuyên môn.
b) Phương pháp đào tạo thạc sĩ
được thực hiện bằng cách phối hợp các hình thức học tập trên lớp với tự học,
tự nghiên cứu; coi trọng việc phát huy năng lực thực hành, năng lực phát
hiện, giải quyết những vấn đề chuyên môn.
Phương pháp đào tạo tiến sĩ được
thực hiện chủ yếu bằng tự học, tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của nhà giáo,
nhà khoa học; coi trọng rèn luyện thói quen nghiên cứu khoa học, phát triển
tư duy sáng tạo trong phát hiện, giải quyết những vấn đề chuyên môn.
c) Nội dung, phương pháp giáo
dục các môn học, chuyên đề luận văn, luận án theo quy định của Bộ Giáo dục
và Đào tạo.
Điều 37. Giáo trình cao đẳng,
giáo trình đại học
1. Giáo trình cao đẳng, giáo
trình đại học phải thể hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục, cụ thể hóa nội
dung, phương pháp giáo dục quy định trong chương trình đào tạo của trường
cao đẳng, trường đại học.
2. Nhà nước có chính sách bảo
đảm để các trường cao đẳng, trường đại học có đủ giáo trình chủ yếu.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo có
trách nhiệm tổ chức biên soạn và duyệt các giáo trình sử dụng chung cho các
trường cao đẳng, trường đại học. Giáo trình cao đẳng, giáo trình đại học
theo chuyên ngành của từng trường do Hiệu trưởng trường cao đẳng, trường đại
học tổ chức biên soạn và duyệt trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định
giáo trình do Hiệu trưởng thành lập để sử dụng làm tài liệ giảng dạy, học
tập chính thức trong nhà trường.
Điều 38. Cơ sở giáo dục đại
học và sau đại học
1. Cơ sở giáo dục đại học và sau
đại học gồm:
a) Trường cao đẳng đào tạo trình
độ cao đẳng;
b) Trường đại học đào tạo trình
độ cao đẳng, đại học, đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ khi được Thủ tướng
Chính phủ giao;
c) Viện nghiên cứu khoa học đào
tạo trình độ tiến sĩ, phối hợp với trường đại học đào tạo trình độ thạc sĩ
khi được Thủ tướng Chính phủ giao.
2. Mô hình tổ chức cụ thể
của các loại trường đại học Chính phủ quy định.
Điều 39. Văn bằng giáo dục đại học và sau đại
học
1. Sinh viên học hết chương
trình cao đẳng, có đủ điều kiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì
được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì được cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng.
Sinh viên học hết chương trình
đại học, có đủ điều kiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được
dự thi hoặc bảo vệ đồ án, khoa luận tôt nghiệp và nếu đạt yêu cầu thì được
cấp bằng tốt nghiệp đại học.
Bằng tốt nghiệp đại học của
ngành kỹ thuật được gọi là bằng kỹ sư, của ngành kiến trúc là bằng kiến trúc
sư, của ngành y tế là bằng bác sĩ, bằng dược sĩ, của các ngành khoa học cơ
bản, sư phạm, luật, kinh tế là bằng cử nhân; đối với các ngành còn lại là
bằng tốt nghiệp đại học.
2. Học viên hoàn thành chương
trình đào tạo thạc sĩ, có đủ điều kiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào
tạo thì được bảo vệ luận văn và nếu đạt yêu cầu thì được cấp bằng thạc sĩ.
Nghiên cứu sinh hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ, có đủ điều kiện
theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được bảo vệ luận án và nếu đạt
yêu cầu thì được cấp bằng tiến sĩ.
3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo cấp bằng tiến sĩ.
Đối với bằng thạc sĩ, bằng tốt
nghiệp đại học, bằng tốt nghiệp cao đẳng, nhà trường được phép đào tạo ở
trình độ nào thì Hiệu trưởng cấp bằng ở trình độ ấy.
4. Chính phủ quy định văn bằng
tốt nghiệp sau đại học của một số ngành chuyên môn đặc biệt.
Mục 5
PHƯƠNG THỨC GIÁO DỤC KHÔNG CHÍNH QUI
Điều 40. Giáo dục không chính
quy
Giáo dục không chính quy là
phương thức giáo dục giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, suốt đời
nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn,
chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và
thích nghi với đời sống xã hội.
Điều 41. Yêu cầu về nội dung,
phương pháp giáo dục không chính quy
1. Nội dung giáo dục không chính
quy được thể hiện trong các chương trình sau đây:
a) Chương trình xóa nạn mù chữ
và giáo tiếp sau khi biết chữ;
b) Chương trình đào tạo bổ sung,
tu nghiệp định kỳ, bồi dưỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, kỹ năng;
c) Chương trình giáo dục đáp ứng
yêu cầu của người học;
d) Chương trình giáo dục để lấy
văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức vừa học vừa làm, học
từ xa, tự học có hướng dẫn.
2. Nội dung giáo dục của các
chương trình quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này phải bảo đảm
tính thiết thực, giúp người học nâng cao khả năng lao động, sản xuất, công
tác và chất lượng cuộc sống.
Nội dung giáo dục của
chương trình giáo dục quy định tại điểm d khoản 1 Điều này phải được thực
hiện theo đúng quy định của Bộ Giáo
dục và Đào tạo.
3. Phương pháp giáo dục không
chính quy phải phát huy vai trò chủ động, khai thác kinh nghiệm của người
học, coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học.
Điều 42. Cơ sở giáo dục không
chính quy
1. Cơ sở giáo dục không chính
quy gồm:
a) Trung tâm giáo dục thường
xuyên;
b) Giáo dục không chính quy còn
được thực hiện tại trường phổ thông , trường trung học chuyên nghiệp, cơ sở
dạy nghề, trường cao đẳng, trường đại học và thông qua các phương tiện
truyền thông đại chúng.
Cơ sở giáo dục không chính quy
thực hiện các chương trình giáo dục theo phương thức giáo dục không chính
quy phải bảo đảm nhiệm vụ đào tạo của mình; chỉ thực hiện đối với chương
trình giáo dục quy định tại điểm d khoản 1 Điều 41 của Luật này khi các
chương trình đó đang được thực hiện ở hệ chính quy và được cơ quan quản lý
nhà nước về giáo dục có thẩm quyền cho phép.
2. Trung tâm giáo dục
thường xuyên không thực hiện các chương trình giáo dục để lấy bằng tốt
nghiệp trung học chuyên nghiệp, bằng
tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học.
Điều 43. Văn bằng, chứng chỉ
giáo dục không chính quy
1. Học viên theo học chương
trình giáo dục quy định tại điểm d khoản 1 Điều 41 của Luật này được dự thi
để lấy bằng tốt nghiệp nếu có đủ các điều kiện sau đây:
a) Đăng ký tại một cơ sở giáo
dục có thẩm quyền đào tạo ở bậc học, cấp học, trình độ tương ứng;
b) Học hết chương trình, thực
hiện đủ các yêu cầu về kiểm tra kết quả học tập và được cơ sở giáo dục nơi
đăng ký xác nhận đủ điều kiện dự thi theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào
tạo.
2. Học viên học hết các chương
trình giáo dục quy định các điểm a, b và c khoản 1 Điều 41 của Luật này, nếu
có đủ điều kiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được dự kiểm
tra; nếu đạt yêu cầu thì được cấp chứng chỉ giáo dục không chính quy.
3. Học viên học hết chương trình
giáo dục quy định tại điểm d khoản 1 Điều 41 của Luật này, nếu có đủ điều
kiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được dự thi; nếu đạt yêu
cầu thì được cấp văn bằng tốt nghiệp theo phương thức giáo dục không chính
quy, trên văn bằng có ghi hình thức học tập; nếu có đủ điều kiện thì được
cấp bằng tốt nghiệp của hệ chính quy.
4. Thẩm quyền cấp văn bằng
giáo dục không chính quy được quy định như thẩm
quyền cấp văn bằng giáo dục chính quy.
5. Giám đốc trung tâm giáo dục
thường xuyên cấp chứng chỉ giáo dục không chính quy.
CHƯƠNG III
NHÀ TRƯỜNG VÀ CƠ SỞ GIÁO DỤC KHÁC
Mục 1
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ TRƯỜNG
Điều 44. Nhà trường trong hệ
thống giáo dục quốc dân
1. Nà trường trong hệ thống giáo
dục quốc dân được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát
triển sự nghiệp giáo dục và được tổ chức theo các loại hình công lập, bán
công, dân lập, tư thục.
Nhà trường thuộc các loại hình
công lập, bán công, dân lập, tư thục đều chịu sự quản lý nhà nước của các cơ
quan quản lý giáo dục theo sự phân công, phân cấp của Chính phủ.
Nhà nước tạo điều kiện để trường
công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân; có chính
sách khuyến khích tổ chức, cá nhân mở trường dân lập, tư thục đáp ứng nhu
cầu học tập của xã hội.
2. Căn cứ vào quy định của Luật
này, Chính phủ quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động của các loại hình nhà
trường.
Điều 45. Nhà trường của cơ
quan hành chính nhà nước, của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội,
của lực lượng vũ trang nhân dân
1. Nhà trường của cơ quan hành
chính nhà nước, của tổ chức chính trị, của tổ chức chính trị-xã hội có nhiệm
vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Nhà trường của lực lượng vũ trang
nhân dân có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng; bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ
quản lý nhà nước về nhiệm vụ và kiến thức quốc phòng, an ninh.
2. Chính phủ quy định cụ thể
việc thực hiện Luật này đối với nhà trường quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 46. Điều kiện thành lập
1. Nhà trường được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quy định tại Đều 47 của Luật này ra quyết định khi bảo
đảm các điều kiện về cán bộ quản lý, nhà giáo, trường sở, thiết bị và tài
chính theo quy định của Chính phủ.
2. Chính phủ quy định thủ tục
thành lập trường cao đẳng, trường đại học; Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định
thủ tục thành lập trường ở các bậc học, cấp học khác trong hệ thống giáo dục
quốc dân.
Điều 47. Thẩm quyền thành
lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể nhà trường
1. Thẩm quyền thành lập nhà
trường được quy định như sau:
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân câp
huyện quyết định thành lập trường mầm non, trường mẫu giáo, trường tiểu học,
trường trung học cơ sở, trường phổ thông dân tộc bán trú;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh quyết định thành lập trường trung học phổ thông, trường phổ thông dân
tộc nội trú; trường trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề thuộc tỉnh;
c) Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quyết định thành lập trường trung học
chuyên nghiệp, trường dạy nghề trực thuộc;
d) Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo quyết định thành lập trường cao đẳng, trường dự bị đại học;
đ) Thủ tướng chính phủ quyết
định thành lập trường đại học.
2. Cấp nào có thẩm quyền quyết
định thành lập thì cấp đó có thẩm quyền đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia,
tách, giải thể nhà trường.
Chính phủ quy định cụ thể về thủ
tục đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể nhà trường.
Điều 48. Điều lệ nhà trường
1. Nhà trường được tổ chức và
hoạt động theo quy định của Luật này và Điều lệ nhà trường.
2. Điều lệ nhà trường phải có
những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà
trường;
b) Tổ chức các hoạt động giáo
dục trong nhà trường;
c) Nhiệm vụ và quyền của nhà
giáo;
d) Nhiệm vụ và quyền của người
học;
e) Tổ chức và quản lý nhà
trường;
f) Cơ sở vật chất và thiết bị
nhà trường;
g) Quan hệ giữa nhà trường, gia
đình và xã hội.
3. Thủ tướng Chính phủ quyết
định ban hành Điều lệ trường đại học; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết
định ban hành Điều lệ nhà trường ở các bậc học, cấp học khác.
Điều 49. Hiệu trưởng
1. Hiệu trưởng là người chịu
trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền bổ nhiệm, công nhận.
2. Hiệu trưởng các trường thuộc
hệ thống giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý
trường học.
3. Tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền
hạn của Hiệu trưởng; thủ tục bổ nhiệm, công nhận Hiệu trưởng trường cao
đẳng, trường đại học do Thủ tường Chính phủ quy định; đối với các trường ở
các bậc học, cấp học khác do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.
Điều 50. Hội đồng tư vấn
trong nhà trường
|