|

Định hướng chiến lược trung
hạn Phát triển ĐHQG-HCM
giai đoạn 2001-2005
II. MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC TRUNG HẠN PHÁT TRIỂN ĐHQG-HCM GIAI ĐOẠN 2001-2005
Trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng, căn cứ các văn bản pháp quy về việc thành lập, tổ chức lại
ĐHQG-HCM, Quy chế Tổ chức - hoạt động của Đại học Quốc gia do Thủ tướng
Chính phủ ban hành và nhằm thể chế hóa những nội dung quan trọng của Nghị
quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ của ĐHQG-HCM lần thứ II, toàn thể CBCC tập
trung sức lực, trí tuệ, quyết tâm xây dựng chiến lược phát triển ĐHQG-HCM
trở thành một trung tâm mạnh về đào tạo và nghiên cứu khoa học chất lượng
cao.
1. Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở giữ vững sự ổn định, kỷ cương, nề nếp, phát huy tốt nhất các
thành tích đạt được, ĐHQG-HCM tập trung nỗ lực phấn đấu đạt được sự
chuyển biến rơ về chất lượng trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và
triển khai ứng dụng. Chất lượng luôn là mục tiêu số một của ĐHQG-HCM, nhưng
đồng thời cũng là nhiệm vụ
khó nhất.
Muốn có chất lượng trong đào tạo, nghiên cứu khoa học th́ ĐHQG-HCM đồng thời
cũng phải phấn đấu đạt
chất lượng
và
hiệu quả
cao ở một loạt các hoạt động khác như xây dựng đội ngũ, cơ sở vật chất,
trang thiết bị, tổ chức quản lư, điều hành,…
Đến năm 2005, xét về thực lực cũng như hiệu quả của mọi hoạt động,
ĐHQG-HCM phấn đấu xứng đáng đóng vai tṛ nồng cốt trong hệ thống đại học
Việt Nam; và đến 2010, ĐHQG-HCM phải chứng tỏ được khả năng
đuổi kịp và sánh ngang với các đại học có uy tín trong khu vực và quốc tế về
chất lượng đào tạo.
Như vậy, chiến lược phát triển trung hạn ĐHQG - HCM giai đoạn 2001 - 2005
là sự cụ thể hóa, phù hợp với mục tiêu lâu dài là xây dựng ĐHQG - HCM
thành mộ trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học đa ngành, đa lĩnh vực,
chất lượng cao, làm nồng cốt trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, từng
bước đuổi kịp và sánh ngang với các đại học có uy tín trong khu vực và quốc
tế.
2. Mục tiêu cụ thể của từng lĩnh vực hoạt động
2.1. Công tác chính trị - tư tưởng
a) Mục tiêu
Trọng tâm công tác chính trị tư tưởng là làm cho mọi cán bộ, công chức quán
triệt mục tiêu, sứ mạng ĐHQG, qua đó khơi gợi ḷng tự hào, tạo sự
thống nhất chí, đoàn kết một ḷng cùng nhau phấn đấu xây dựng và
phát triển ĐHQG-HCM
vững mạnh.
Công tác chính trị tư tưởng cần tập trung làm cho học sinh – sinh viên
có tinh thần yêu nước và tự tôn dân tộc, lư tưởng xă hội chủ nghĩa, ḷng
nhân ái, ư thức tôn trong pháp luật, hun đúc tinh thần hiếu học, chí tiến
thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn. Đặc biệt, làm cho
sinh viên nhận thức rơ được mục tiêu xây dựng ĐHQG-HCM để phấn đấu học tập,
rèn luyện xứng đáng là sinh viên ĐHQG-HCM.
b) Giải pháp
Công tác chính trị tư tưởng cho cán bộ, công chức và sinh viên phải được
thực hiện một cách thường xuyên dưới nhiều h́nh thức phong phú, sáng tạo,
thiết thực, lôi cuốn, hấp dẫn, đi vào chiều sâu, tránh h́nh thức, qua loa.
Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị 34 của Bộ Chính trị (Khóa VIII) và
chỉ thị 22/CT-TU của Thành ủy TP. HCM về “Tăng cường công tác chính trị
tư tưởng, củng cố tổ chức Đảng, đoàn thể quần chúng và công tác phát triển
đảng viên trong các trường đại học”.
Tăng cường về lượng và chất các cơ sở Đảng “trong sạch - vững mạnh”;
đặc biệt quan tâm công tác phát triển Đảng trong cán bộ, công chức trẻ, cán
bộ nữ và sinh viên, phấn đấu đạt chỉ tiêu phát triển đảng viên do Đại hội
Đảng bộ ĐHQG đề ra; phát huy sức mạnh tổng hợp của các đoàn thể: Công đoàn,
Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên, Hội Cựu Chiến binh trong công tác tuyên
truyền vận động tất cả v́ mục tiêu chung - xây dựng ĐHQG-HCM ngày càng phát
triển, vững mạnh.
Đẩy mạnh công tác thông tin hai chiều lănh đạo – cơ sở, lănh đạo – học
sinh, sinh viên và ngược lại; thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở.
Việc tiếp cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên ở các đơn vị cần tổ chức
định kỳ nhằm nắm bắt t́nh h́nh tư tưởng, tâm tư nguyện vọng để có biện pháp
xử lư kịp thời, hiệu quả, thấu t́nh, đạt lư.
Xem việc tăng cường điều kiện ăn, ở, sinh hoạt; cơ sở vật chất, trang
thiết bị rèn luyện, vui chơi, giải trí tại các kư túc xá là một giải pháp
quan trọng trong công tác quản lư sinh viên. Phấn đấu trong vài năm tới, các
kư túc xá sẽ trở thành nơi tự đào tạo có hiệu quả của sinh viên ngoài giờ
lên lớp.
Thực hiện các h́nh thức khen thưởng thích đáng, chế độ cộng điểm khuyến
khích với những sinh viên phấn đấu, rèn luyện tốt, hoạt động xă hội và
nghiên cứu khoa học giỏi.
2.2. Công tác xây dựng đội ngũ
Mục tiêu là tạo sự chuyển biến rơ nét về chất lượng cũng như
số lượng đội ngũ cán bộ, về cơ cấu, độ tuổi, ngành nghề, học hàm, học vị,
bằng cấp.
a) Xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy
Đây là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu của ĐHQG-HCM.
Về số lượng, nhằm tăng cường đội ngũ cho các đơn vị hiện có và nhu
cầu nhân sự cho các đơn vị mới, đến năm 2005, tổng số cán bộ, công chức
trong biên chế của ĐHQG-HCM sẽ là 2.500 người, trong đó cán bộ giảng dạy là
2.000 người so với hiện nay là 1.075. Lúc ấy tỉ lệ SV/CBGD sẽ đạt 20 so với
hiện nay là 37 [ phụ lục 1].
Về học vị, phấn đấu từ năm 2005 đến năm 2007, số cán bộ giảng dạy
có tŕnh độ trên đại học đạt tỷ lệ 80% (hiện nay là 63.05%), trong đó
40% có tŕnh độ tiến sĩ (hiện nay là 30,30%); về học hàm, số
cán bộ giảng dạy là giáo sư, phó giáo sư tăng ba lần so với hiện nay,
giảng viên chính đạt 50% (hiện nay là 30,50%) vào cuối năm của kế hoạch
trung hạn.
Sử dụng ngân sách Nhà nước và các nguồn kinh phí khác, phấn đấu mỗi năm
gửi trung b́nh từ 70 -100 cán bộ đi đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ ở nước ngoài,
nhằm góp phần đạt tỷ lệ sau đại học cho lực lượng cán bộ giảng dạy như mục
tiêu đă đề ra. Tuyển chọn về phẩm chất đạo đức và thi kiểm tra năng lực
chuyên môn trước, sau đó nếu có đủ tŕnh độ ngoại ngữ (có kiểm tra) th́ cử
đi đào tạo ngay, nếu chưa th́ tổ chức học ngoại ngữ từ 6 đến 12 tháng do
ĐHQG-HCM chủ tŕ.
Tất cả cán bộ giảng dạy phải sử dụng thông thạo ít nhất một ngoại ngữ, trong
đó 10% có thể giảng dạy chuyên môn bằng ngoại ngữ vào năm 2005.
b) Xây dựng đội ngũ quản lư hành chánh
Đội ngũ cán bộ, công chức khối quản lư hành chánh phải dần chuyên môn hóa
từng bộ phận tiến tới chuyên môn hóa hoàn toàn vào năm 2005, cụ thể :
Cán bộ quản lư giữ chức vụ Trưởng - Phó ban, Trưởng - Phó pḥng phải có
tŕnh độ tiến sĩ chuyên ngành hoặc thạc sĩ về quản lư nhà nước.
Chuyên viên bắt buộc phải qua các khóa, lớp đào tạo về quản lư nhà nước từ 6
tháng trở lên, nắm vững kiến thức chuyên môn nghiệp vụ liên quan đến nhiệm
vụ công tác; sử dụng được ít nhất một ngoại ngữ.
Tối thiểu 70% cán bộ, công chức phải có chương tŕnh, kế hoạch học tập
nghiên cứu, tự bồi dưỡng nâng cao tŕnh độ nghiệp vụ và có thể kiểm tra được
sau mỗi năm (sẽ ban hành quy chế).
2.3. Tổ chức quản lư, h́nh thành các đơn vị mới
Kiện toàn bộ máy quản lư theo hướng gọn, nhẹ, hiệu quả từ cấp ĐHQG-HCM đến
các đơn vị thành viên. Trong ṿng 5 năm tới, ĐHQG-HCM phấn đấu quán triệt và
thực hiện nhuần nhuyễn quy chế tổ chức và hoạt động ĐHQG-HCM do Thủ
tướng ban hành; làm rơ quyền hạn, trách nhiệm trong phân cấp cũng như trong
phối hợp hoạt động.
Từng bước áp dụng thành tựu công nghệ thông tin vào công tác quản lư điều
hành. H́nh thành một số hoạt động quản lư theo kiểu trường học - điện tử.
Tích cực chuẩn bị các điều kiện cần và đủ để có thể lập mới một số trường,
viện vào cuối năm 2005, chú ư tập trung các lĩnh vực mà ĐHQG-HCM có thế mạnh
và đồng thời là nhu cầu cấp bách cho sự phát triển kinh tế – xă hội như công
nghệ thông tin, công nghệ sinh học, ngoại ngữ, xây dựng,…trên cơ sở giữ ổn
định, không trùng lắp với các đơn vị ở các trường thành viên.
Thành lập Trường Đại học Quốc tế trên cơ liên kết với các trường nước
ngoài có uy tín, tạo điều kiện cho cán bộ, sinh viên du học tại chỗ và qua
đó, ĐHQG-HCM có thể học tập, đối chiếu kinh nghiệm và chất lượng đào tạo của
ḿnh.
2.4. Tạo sự chuyển biến rơ nét về chất lượng đào tạo
a) Mục tiêu
Mục tiêu chung
là tập trung nâng cao chất lượng cho cấp đại học chính quy, sinh viên được
đào tạo ra từ ĐHQG-HCM phải đạt chất lượng cao nhất ở khu vực phía Nam và cả
nước, không những có khả năng t́m việc mà c̣n có khả năng tạo ra việc làm
trong thị trường lao động đầy biến động; phấn đấu tiến đến đạt chất lượng
ngang tầm của các nước trong khu vực, làm ṇng cốt cho giáo dục đại học Việt
Nam, góp phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xă
hội của đất nước. Chất lượng toàn diện (tư tưởng, đạo đức, chuyên môn,
nghiệp vụ, sức khoẻ, khả năng thích ứng linh hoạt,….) được đặt lên hàng đầu
trong công tác đào tạo sinh viên.
b) Nhiệm vụ và giải pháp
Để đạt được mục tiêu trên, những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể sau đây cần thực
hiện trong giai đoạn 2001 -2005:
Đổi mới công tác quản quản lư đào tạo: tin học hóa, quy tŕnh hóa từng
phần tiến đến toàn phần vào năm học 2005-2006.
Về tuyển sinh, từ năm 2002 trở đi, chỉ tiêu tuyển sinh đại học chính quy giữ
mức tăng b́nh quân hằng năm từ 3-5%. Tổng số sinh viên đại học chính quy
khoảng 30.000 so với hiện nay là 26.000 ; cải tiến, đổi mới phương pháp
tuyển sinh, mở rộng dần sang h́nh thức thi trắc nghiệm, áp dụng có cân nhắc
giới hạn “ngưỡng” về học lực trước hết ở một số ngành để hạn chế bớt áp lực
thí sinh dự thi.
Cố gắng đến năm 2005, tỷ lệ SV/CBGD là 20 (so với hiện nay là 37); một số hệ
đào tạo như cao đẳng, tại chức hoặc một số ngành mà xă hội ít có yêu cầu th́
giữ nguyên chỉ tiêu hoặc giảm dần.
Bảng dưới là các số liệu thống kê chỉ tiêu tuyển sinh đại học, cao đẳng từ
năm 1996 trở lại đây.
|
Hệ đào tạo |
1996 |
1997 |
1998 |
1999 |
2000 |
2001 |
ĐH chính quy
|
4.950 |
6.000 |
6.000 |
6.250 |
6.830 |
7.400 |
|
Cao đẳng |
- |
- |
- |
3.750 |
1.500 |
1.900 |
|
Tại chức |
- |
- |
- |
- |
4.350 |
5.500 |
Phân tích cho thấy, chỉ tiêu tuyển sinh đại học chính quy tăng trung b́nh
hàng năm khoảng 12,4%; hệ cao đẳng giảm mạnh vào năm 2000, nhưng năm 2001
lại tăng lại 26,6% so với năm 2000; hệ tại chức năm 2001 tăng 26,4% so với
năm 2000. Như vậy, nếu cứ giữ nhịp độ tăng như trên, th́ trong vài năm tới
quy mô đào tạo sẽ rất lớn.
Đổi mới nội dung - chương tŕnh, phương pháp đào tạo. Phấn đấu đến 2005,
ĐHQG-HCM có khoảng 40-50% số chuyên ngành đào tạo đạt tŕnh độ khu vực theo
tiêu chí kiểm định chất lượng thông dụng.
Mở rộïng việc giảng dạy chuyên môn bằng ngoại ngữ (Anh, Pháp,…) ở một số
ngành, chuyên ngành thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xă hội -
nhân văn, kỹ thuật - công nghệ, môi trường, tài nguyên. Thu hút sinh viên
nước ngoài đến học tập tại ĐHQG-HCM ở một số lĩnh vực đào tạo mà ta có thế
mạnh.
Thống nhất xây dựng và phát triển chương tŕnh đào tạo cử nhân, kỹ sư
tài năng trong tất cả các trường thành viên nhằm đào tạo chuyên gia đầu
ngành, nhân tài cho đất nước và tạo động lực thúc đẩy nâng cao chất lượng
đào tạo diện rộng. Đến năm học 2005 -2006 nâng số lượng sinh viên các hệ này
tăng lên trên 1.000, trong đó Đại học Bách khoa 400, Khoa học Tự nhiên 300,
Khoa học Xă hội – Nhân văn 300; đảm bảo 30 - 40% sinh viên các hệ này hội đủ
các điều kiện được đào tạo tiếp tục ở bậc cao hơn, số c̣n lại cơ bản có việc
làm và phát huy tốt tác dụng sau tốt nghiệp.
Tăng quy mô đào tạo sau đại học, năm sau cao hơn năm trước với tốc độ
không dưới 10%/năm. Đến năm 2005, tăng tổng số học viên cao học và nghiên
cứu sinh thuộc ĐHQG-HCM gấp 1,6 lần so với năm 2001 (tính đến năm 2001, tổng
số người học sau đại học là 2.033 người, trong đó có 1.886 học viên cao học
và 147 nghiên cứu sinh). Bảng dưới đây tŕnh bày sự tăng số lượng tuyển sinh
sau đại học của ĐHQG - HCM từ năm 1998 trở lại đây (xem thêm chi tiết ở phụ
lục 3).
|
Bậc đào tạo |
1998 |
1999 |
2000 |
2001 |
|
Thạc sĩ |
288 |
486 |
500 |
790 |
|
Tiến sĩ |
12 |
32 |
36 |
39 |
Có thể thấy rằng, nếu không kể sự tăng đột biến của năm 1999 so với năm
1998, th́ từ năm 1999 đến nay số lượng tuyển sau đại học tăng b́nh quân
31,3% đối với cao học và 10,9% đối với nghiên cứu sinh. Điều này chứng tỏ
khả năng thực hiện chỉ tiêu tăng quy mô tuyển sinh nêu trên là khả thi.
Xác lập sự liên thông giữa các bậc và hệ đào tạo trong tuyển sinh ở phạm
vi ĐHQG, xem đây là nét riêng, là thế mạnh của ĐHQG-HCM.
Đến năm 2005 và một số năm kế tiếp, hàng năm ĐHQG-HCM sẽ đào tạo cung cấp
cho xă hội trung b́nh 3.500 kỹ sư, 5.000 cử nhân đại học (trong đó có 200 cử
nhân, kỹ sư tài năng); 750 thạc sĩ, 70 tiến sĩ; 500 cử nhân, kỹ sư cao
đẳng,… góp phần tăng cường nguồn nhân lực có tŕnh độ chuyên môn cao phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước.
Số lượng và chất lượng cán bộ được đào tạo theo các tŕnh nói trên sẽ tăng
dần sau mỗi năm. Đến năm2020 (theo Quy hoạch chung đă được Chính phủ phê
duyệt tại Quyết định số 154/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
10/10/2001),
tổng số sinh viên ĐHQG -HCM sẽ là 50.000.
2.5. Nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng, hợp tác quốc tế và trong
nước.
a) Mục tiêu
Một là,
nâng cao chất lượng đào tạo thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học,
triển khai ứng dụng, hợp tác quốc tế và hợp tác trong nước.
Hai là,
tạo những chuyển biến rơ nét về chất lượng, tầm cỡ, hiệu quả các công tŕnh
nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng phục vụ đắc lực cho phát triển kinh
tế – xă hội đất nước.
Ba là,
qua việc phát triển nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế, tăng tiềm lực
trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị,
kinh phí hoạt động, năng lực quản lư và khả năng hợp tác liên kết trong đào
tạo, nghiên cứu khoa học.
b) Nhiệm vụ cụ thể
Phấn đấu để được chủ tŕ các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc các chương
tŕnh khoa học – công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước và các đề tài độc lập cấp
Nhà nước năm sau cao hơn năm trước. Đến 2005, số đề tài trọng điểm cấp Nhà
nước do ĐHQG-HCM thực hiện nhiều gấp 3 lần so với năm 2001 ( năm 2001 đă
được chọn 6 đề tài trọng điểm và 4 đề tài độc lập), tăng gấp đôi số đề tài
trọng điểm cấp ĐHQG-HCM (so với hiện nay là gần 300).
Trường Đại học Bách khoa, Viện Môi trường - Tài nguyên đi đầu trong công
tác nghiên cứu khoa học – triển khai ứng dụng, tạo được thị trường khoa học
công nghệ và triển khai ứng dụng rộng răi.
Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Xă hội – Nhân
văn đẩy mạnh nghiên cứu khoa học cơ bản, khoa học giáo dục, triển khai
chương tŕnh đào tạo cử nhân tài năng phù hợp với thế mạnh của đơn vị
(Đại học Bách khoa đào tạo kỹ sư tài năng).
Cố gắng đạt tỉ lệ 70% số đề tài triển khai ứng dụng đạt chất lượng, hiệu
quả tốt, góp phần thiết thực cụ thể phát triển kinh tế – xă hội đất nước,
đặc biệt là đối với trường Đại học Bách khoa, viện Môi trường – Tài nguyên.
Tăng nhanh số lượng tổ chức, cơ sở nước ngoài có quan hệ hợp tác với ĐHQG
- HCM, đăïc biệt chú trọng các đối tác thực chất, có hiệu quả. Qua con đường
hợp tác quốc tế, cố gắng phát triển nguồn thu tài chính đạt 1,5 lần so với
năm 2001.
Đối với trong nước, phát triển quan hệ hợp tác nghiên cứu khoa học, triển
khai ứng dụng với các địa phương, các tổ chức khoa học công nghệ, kinh doanh
sản xuất nhằm một mặt phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế – xă hội, một khác
tăng nguồn lực tài chính cho đơn vị, cho ĐHQG - HCM và tăng thu nhập cho
cán bộ công chức. Đặc biệt, ĐHQG-HCM sẽ xúc tiến lập kế hoạch cụ thể để
liên kết, hợp tác với các Tỉnh, Thành trong khu vực, trước hết là với TP.
HCM, Tỉnh B́nh Dương – nơi ĐHQG-HCM trú đóng.
c) Giải pháp chủ yếu
Xây dựng chiến lược nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, hợp tác trong
nước của ĐHQG-HCM phải thật cụ thể, khả thi; kiện toàn khâu tổ chức và cán
bộ trực tiếp chỉ đạo, quản lư lĩnh vực công tác này.
Chủ động tăng cường giao lưu, tiếp xúc với các tổ chức, đơn vị trong và
ngoài nước để t́m hiểu, đồng thời tự giới thiệu về ḿnh để tạo khả năng, cơ
hội hợp tác.
2.6. Xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường trang thiết bị
Tập trung đầu tư xây dựng lớn tại khu Thủ Đức – Dĩ An. Phấn đấu đến 2005, cơ
bản hoàn thành xong phần đền bù, giải toả; xây dựng và đưa vào sử dụng kịp
thời các hạng mục cần thiết, cơ bản định h́nh diện mạo của ĐHQG-HCM, bao gồm
toà nhà điều hành, thư viện trung tâm, khu công nghệ phần mềm, một số nhà
học của các trường. Phấn đấu để khu Thủ Đức – Dĩ An đủ khả năng đảm bảo cho
từ 30-40% cán bộ - sinh viên đến làm việc, học tập.
Củng cố, nâng cấp các cơ sở ở nội thành phục vụ cho công tác đào tạo chuyên
ngành, sau đại học, đào tạo quốc tế và nghiên cứu khoa học.
Tập trung đầu tư chiều sâu về thư viện, trang thiết bị giảng dạy - học tập
và khoa học công nghệ; mời các chuyên gia giỏi để thiết kế, xây dựng nhà
học, khu thí nghiệm, chất lượng hiện đại, kỹ thuật cao, sử dụng lâu bền,
không lạc hậu và trong đó, lắp đặt các thiết bị thí nghiệm đắt tiền, cao cấp
sử dụng chung trong đào tạo nghiên cứu khoa học trong ĐHQG-HCM.
2.7. Phát triển nguồn lực tài chính
Sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí đầu tư của Nhà nước, mở thêm các lĩnh vực
hoạt động mới để có thêm kinh phí. Dự tính đến 2005, kinh phí Nhà nước cấp
sẽ gấp 1,5 – 2 lần so với 2001.
Thông qua các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, triển
khai sản xuất sẽ tạo thêm được nguồn kinh phí cho hoạt động ĐHQG-HCM khoảng
50% so với kinh phí Nhà nước cấp.
Thực hiện cơ chế “khoán thu chi” hợp lư, tăng quyền chủ động và đề
cao trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị về tài chính, lấy hiệu quả tổng hợp
làm thước đo điều chỉnh cơ chế khoán này.
Nghiên cứu kiến nghị tăng học phí nhằm bổ sung nguồn lực tài chính, để có
điều kiện mở mang cơ sở vật chất, trang bị phương tiện giảng dạy hiện đại,
tăng thu nhập cán bộ công chức, thu hút chuyên gia giỏi tham gia giảng dạy
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
Lập từ 2 đến 4 doanh nghiệp (hoặc công ty) trong trường học để gắn chặt hơn
nữa giữa công tác đào tạo – nghiên cứu khoa học – triển khai ứng dụng và để
có thêm nguồn kinh phí cho hoạt động.
|