Chức năng - nhiệm vụ

Phần Thứ nhất

Sự h́nh thành và những biến động trong quá tŕnh tổ chức ĐHQG-HC

Những thành tựu bước đầu

Những yếu kém

Những bài học chủ yếu

Phần Thứ hai

Phân tích dự báo phát triển kinh tế – Xă hội 5 năm (2001-2005) liên quan tới hoạt động ĐHQG-HCM

Mục tiêu chiến lược trung hạn phát triển ĐHQG-HCM giai đoạn  2001-2005

Các mục tiêu đột phá trong chiến lược trung hạn 2001-2005

Phần Thứ ba

Mục tiêu – giải pháp

Công tác chỉ đạo,  điều hành thực hiện kế hoạch

Phần Thứ tư

Đánh giá một năm thực  hiện chiến lược

Đánh giá những thành tựu của năm đầu thực hiện chiến lược và những tồn tại chủ yếu

Kế hoạch, nhiệm vụ 2002 - 2003

  Kế hoạch, nhiệm vụ 2003 - 2004

   Lịch công tác

  T́m kiếm

  Liên hệ

  Download

  Sitemap

 

Định hướng chiến lược trung hạn Phát triển ĐHQG-HCM
giai đoạn 2001-2005

 

I. PHÂN TÍCH DỰ BÁO PHÁT TRIỂN KNH TẾ – XĂ HỘI 5 NĂM (2001-2005) LIÊN QUAN TỚI HOẠT ĐỘNG ĐHQG-HCM

1. Thời cơ - thuận lợi

Trong phạm vi quốc tế

Thế kỷ XXI là thế kỷ khoa học, công nghệ sẽ tiếp tục phát triển như vũ băo, thúc đẩy mạnh mẽ quá tŕnh toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế tri thức; cũng là thế kỷ mà vai tṛ của giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ có ư nghĩa quyết định hơn bao giờ hết đối với sự phát triển toàn diện của mỗi quốc gia.

Khoa học - công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực cơ bản của sự phát triển.

Trong những năm gần đây, về xu hướng tổ chức đại học trên thế giới có thể quan sát thấy hiện tượng nhiều nước một mặt là tiếp tục thành lập thêm các đại học mới, mở rộng các loại h́nh đào tạo đại học, đại chúng hoá đào tạo đại học; mặt khác là tổ chức lại đại học bằng cách sáp nhập nhiều trường nhỏ thành một trường lớn hơn và tập trung đầu tư nâng cao chất lượng, đẩy mạnh đào tạo tinh hoa ở các trường lớn này. Một ví dụ ở một quốc gia sát cạnh ta là Trung Quốc. Báo cáo khảo sát của đoàn công tác cán bộ Bộ Giáo dục - Đào tạo Việt Nam tại Trung Quốc năm 2001 cho thấy rằng, Trung Quốc có 450 trường đại học đă được tổ chức lại thành 188 trường lớn hơn, trong đó có 7 trường dành cho người lớn tuổi. Ngoài ra, Trung Quốc hiện đă giao 360 trường đại học và cao đẳng  cho địa phương quản lư.

Giáo dục đại học Việt Nam bước đầu đă được tổ chức lại theo xu hướng chung của giáo dục đại học thế giới. ĐHQG-HCM được tổ chức sắp xếp và định hướng hoạt động phù hợp với xu hướng này, được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư, tạo cơ chế thuận lợi cho sự phát triển.

 Trong phạm vi quốc gia

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đă tiến hành kiểm điểm, đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc những thành tựu và khuyết điểm thời gian qua, đề ra các quyết sách quan trọng cho thời kỳ tới. Đại hội đă khẳng định “phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xă hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. Như vậy, trong 10 năm tới, bối cảnh quốc tế và yêu cầu phát triển của đất nước đặt giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng trước những thời cơ và thách thức lớn.

Tinh thần, phương hướng, mục tiêu lớn trong báo cáo chính trị tŕnh bày trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đă được cụ thể hóa trong chiến lược phát triển kinh tế - xă hội 10 năm và kế hoạch 5 năm.

Một là, Chiến lược phát triển kinh tế - xă hội 2001-2010 – chiến lược  đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa theo định hướng XHCN, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp;

Hai là, Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xă hội 5 năm 2001-2005. Đây là bước mở đầu quan trọng trong việc thực hiện chiến lược phát triển KT-XH 2001-2010.

– Hiện nay chúng ta đang ở giai đoạn đầu xây dựng một nước công nghiệp. Đây là giai đoạn tạo ra những tiền đề cơ bản cho công nghiệp hoá – hiện đại hóa đất nước, xác định mục tiêu, xây dựng hạ tầng và nguồn nhân lực ban đầu. Đất nước yêu cầu phải phát triển nhanh với tốc độ tăng trưởng GDP b́nh quân hàng năm là 7,5%, phải có những bước nhảy vọt, đột phá. Muốn vậy, vấn đề nhân lực có tŕnh độ cao và vấn đề phát triển khoa học - công nghệ phải được đặt lên hàng đầu. Ở đây có thể thấy rơ vai tṛ quan trọng đặc biệt của giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ.

– Hệ thống các trường đại học, đặc biệt là hai Đại học quốc gia (trong đó có ĐHQG-HCM) giữ vai tṛ hết sức quan trọng trong sự nghiệp đào tạo nhân lực có tŕnh độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xă hội của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, đóng góp xứng đáng cho việc thực hiện thành công các chiến lược, phương hướng, kế hoạch mà Đại hội IX đă đề ra.

– ĐHQG-HCM đóng trên địa bàn Tp. HCM và tỉnh B́nh Dương. Phạm vi tuyển sinh của ĐHQG-HCM là cả nước, nhưng chủ yếu là khu vực phía Nam, từ Quảng Nam, Đà Nẵng trở vào, đặc biệt là khu vực Miền Đông Nam Bộ, Tp. HCM và đồng bằng sông Cửu Long. Đây là khu vực năng động, giàu tiềm năng, đứng hàng đầu các tỉnh thành cả nước về nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế - xă hội cũng như tỷ trọng đóng góp cho ngân sách Nhà nước.

– Nhu cầu về nhân lực có tŕnh độ cao ở các lĩnh vực mà ĐHQG-HCM đào tạo cũng như nhu cầu nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng ở khu vực này trong 5 năm tới rất lớn. Ví dụ, Đại hội Đảng bộ Tp. HCM lần VII đă đề ra những chỉ tiêu quan trọng trong kế hoạch phát triển KT-XH giai đoạn 2001-2005 của thành phố. Cụ thể như  tốc độ tăng trưởng GDP b́nh quân 11%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng ít nhất 13%/năm, dịch vụ tăng trên 9.5%/năm; phát triển mạnh công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông, xuất nhập khẩu, khoa học công nghệ, khoa học xă hội nhân văn, giáo dục đào tạo. Trên cơ sở thế mạnh và nhu cầu của kế hoạch phát triển kinh tế xă hội của các tỉnh thành phía Nam, đặc biệt là khu vực Tp. HCM, miền Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu long; “ Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xă hội đến năm 2010” đă được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH giai đoạn 2001-2005 của các tỉnh thành đă được Đại hội Đảng bộ những nơi này thông qua vào cuối năm 2000, cho thấy  rằng  ĐHQG-HCM với tư cách là một đại học đa ngành, đa lĩnh vực, được Nhà nước tập trung đầu tư, sẽ có một vai tṛ đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp nguồn lực các ngành mũi nhọn. ĐHQG-HCM có cơ cấu ngành đào tạo bao gồm 4 lĩnh vực : khoa học tự nhiên, khoa học xă hội và nhân văn, kỹ thuật - công nghệ và khoa học kinh tế, bao gồm trong đó là 51 ngành đào tạo đại học và cao đẳng, 73 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ và 59 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ. Các ngành mũi nhọn của kinh tế xă hội như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, cơ khí - tự động hoá, … đều có mặt trong danh mục đào tạo của ĐHQG-HCM [phụ lục 2].

– Việc tổ chức, sắp xếp lại ĐHQG-HCM trong tương quan với yêu cầu phát triển kinh tế-xă hội của khu vực phía Nam của đất nước là phù hợp, tạo thuận lợi cho sự gắn kết đào tạo - nghiên cứu khoa học - triển khai ứng dụng. Mặt khác, chính sự phát triển kinh tế với tốc độ cao hơn mức trung b́nh của khu vực này so với cả nước đă tạo nên một sức ép đồng thời cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy các hoạt động của ĐHQG-HCM.

   – Bên cạnh đó chủ trương của Đảng, Nhà nước tập trung xây dựng ĐHQG-HCM, đă tạo ra cơ chế thông thoáng, tự chủ cao cho ĐHQG-HCM hoạt động trong các lĩnh vực rất quan trọng như đào tạo, tổ chức, tài chính và hợp tác quốc tế. Đây là một giải pháp mạnh, có ư nghĩa như là sự đột phá trong công cuộc cải cách giáo dục đại học Việt Nam.

2. Khó khăn, thách thức

– Trong phạm vi quốc gia, dù Nhà nước chủ trương ưu tiên đầu tư xây dựng ĐHQG-HCM, nhưng chắc chắn sự ưu tiên ấy vẫn nằm trong khuôn khổ tỷ lệ ngân sách dành cho giáo dục c̣n thấp.

– Mặt khác, ĐHQG-HCM tuy nằm trong khu vực phát triển kinh tế năng động, giàu tiềm năng, nhưng nền kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp, cơ cấu kinh tế chưa thật sự hợp lư. Đồng bằng sông Cửu Long tŕnh độ dân trí c̣n thấp, lao động qua đào tạo chỉ chiếm khoảng 12%, trong đó tŕnh độ đại học, cao đẳng chỉ chiếm khoảng 1,5%, thấp nhất so với các khu vực khác trong nước.

– Ngay trong ĐHQG-HCM cũng c̣n rất nhiều hạn chế về số lượng, chất lượng đội ngũ, về cơ cấu ngành đào tạo, về chương tŕnh, giáo tŕnh, phương pháp dạy, về cơ sở vật chất, trang thiết bị,…Do đó, mục tiêu đề ra sẽ khó đạt được nếu không muốn nói là sẽ có nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa nếu không có chiến lược phát triển thật khoa học, có tính khả thi cao và một quyết tâm lớn.

– Việc nhận thức, thống nhất mục tiêu xây dựng ĐHQG-HCM với những bước đi, giải pháp cụ thể vẫn c̣n là vấn đề cần tiếp tục đựơc bàn bạc, trao đổi, quán triệt.

– Đội ngũ cán bộ ĐHQG-HCM tuy có mạnh so với nhiều trường đại học khác thuộc khu vực phía Nam về chất lượng cũng như số lượng và các mặt hoạt động của các trường, viện thành viên đều đạt được thành tích năm sau cao hơn năm trước, nhưng 5 năm qua, do mô h́nh tổ chức không ổn định mà một số mặt hoạt động như xây dựng đội ngũ, xây dựng cơ bản không phát triển bao nhiêu, chậm một nhịp so với các đại học khác. Mặt khác, do xuất phát điểm bất lợi so với các đại học có uy tín trong khu vực châu Á, nên nh́n một cách tổng thể nếu so sánh tiến bộ đạt được với yêu cầu mục tiêu đề ra, hoặc so với các đại học có uy tín trong khu vực th́ thành tích đạt được c̣n rất khiêm tốn. Nh́n nhận vấn đề dưới góc độ này có thể thấy, ĐHQG-HCM c̣n bề bộn rất nhiều việc phải làm.

 

 

 

Đại học Quốc gia TP.HCM © 2004

Khu phố 6, Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức TP.HCM

Điện thoại : 7242181 - 7242160 Fax : 7242057