Chức năng - nhiệm vụ

Phần Thứ nhất

Sự h́nh thành và những biến động trong quá tŕnh tổ chức ĐHQG-HC

Những thành tựu bước đầu

Những yếu kém

Những bài học chủ yếu

Phần Thứ hai

Phân tích dự báo phát triển kinh tế – Xă hội 5 năm (2001-2005) liên quan tới hoạt động ĐHQG-HCM

Mục tiêu chiến lược trung hạn phát triển ĐHQG-HCM giai đoạn  2001-2005

Các mục tiêu đột phá trong chiến lược trung hạn 2001-2005

Phần Thứ ba

Mục tiêu – giải pháp

Công tác chỉ đạo,  điều hành thực hiện kế hoạch

Phần Thứ tư

Đánh giá một năm thực  hiện chiến lược

Đánh giá những thành tựu của năm đầu thực hiện chiến lược và những tồn tại chủ yếu

Kế hoạch, nhiệm vụ 2002 - 2003

  Kế hoạch, nhiệm vụ 2003 - 2004

   Lịch công tác

  T́m kiếm

  Liên hệ

  Download

  Sitemap

 

Phần thứ nhất 

ĐÁNH GIÁ NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NĂM ĐẦU THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ NHỮNG TỒN TẠI CHỦ YẾU

 I. T̀NH H̀NH THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN

Trong tháng 10/2001, Hội nghị chiến lược trung hạn xây dựng và phát triển ĐHQG-HCM giai đoạn 2001-2005 đă phân tích t́nh h́nh thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ năm đầu chiến lược cũng như các năm kế tiếp.

Về cơ bản, sự phân tích thời cơ, thuận lợi trong chiến lược trung hạn ấy vẫn c̣n nguyên giá trị, không có những thay đổi lớn.

Tuy nhiên, sau một năm hoạt động, bên cạnh những nét cơ bản được khẳng định, vẫn cần được bổ sung, nhấn mạnh các điểm sau đây :

  Thuận lợi

Một là, ĐHQG-HCM ngày càng được sự quan tâm đầu tư  chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước, của các đồng chí lănh đạo cao nhất của các cấp Đảng, Chính quyền trung ương, UBND TP. HCM và các địa phương khác, thể hiện qua các chuyến đến thăm và làm việc của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Nước Trần Đức Lương, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm, Bí thư Thành uỷ Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch UBND TP HCM Lê Thanh Hải, các đồng chí lănh đạo trung ương, địa phương, các đồng chí Bộ trưởng ..v..v.

Các kết luận tại Hội nghị TW6 về GD-ĐT, KH-CN đều có những chỗ trực tiếp liên quan đến sự phát triển hai ĐHQG, trong đó có ĐHQG-HCM.

Hai là, quyền chủ động cao hơn trước rất nhiều, thể hiện qua Quy chế tổ chức và hoạt động ĐHQG-HCM.Quyền chủ động trong công tác tổ chức, tuyển dụng cán bộ, chưa bao giờ ĐHQG-HCM được quyền tuyển dụng đội ngũ CBCC lớn như năm vừa qua.

Ba là, trách nhiệm phối hợp xây dựng ĐHQG-HCM của các địa phương được nâng cao, đặc biệt là TP HCM.

Bốn là, CBCC, SV-HS ĐHQG-HCM ngày càng nhận thức tốt hơn về nhiệm vụ, mục tiêu xây dựng ĐHQG.

Năm là, những hoạt động có hiệu quả, những thành tích của CBCC, SV-HS phấn đấu đạt được cùng cách thức điều hành, quản lư đă làm cho CBCC, SV-HS tin tưởng hơn vào sức lực của ḿnh, tạo thêm niềm tin đối với cấp trên và đối với bản thân mỗi người, tăng thêm động lực cho hoạt động chung.

Sáu là, kinh phí đầu tư để phát triển, kinh phí cho đào tạo, cho nghiên cứu khoa học, cho bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là kinh xây dựng cơ bản cho ĐHQG-HCM có sự tăng đột biến.

Khó khăn

Khó khăn lớn nhất của chúng ta hiện nay là về đội ngũ. Dù qua quá tŕnh hoạt động đội ngũ CB-CC của ĐHQG-HCM đă và đang có những chuyển biến mạnh nhưng vẫn c̣n ở t́nh trạng thiếu về số lượng, không đồng bộ về cơ cấu, chưa đáp ứng về chất lượng.

T́nh h́nh đội ngũ c̣n một bộ phận kiêm nhiệm nhiều việc, dạy nhiều giờ, nhiều trường; hoặc một bộ phận chưa thể hiện cao tâm huyết với giảng dạy, nghiên cứu khoa học.

Đời sống CB-CC tuy có được cải thiện nhiều, nhưng một bộ phận CB-CC chủ yếu sống nhờ đồng lương vẫn c̣n gặp nhiều khó khăn. Nhiều cán bộ vẫn phải làm thêm nhiều việc không đúng chuyên môn để cải thiện mức sống.

ĐHQG-HCM vừa được tổ chức lại, bề bộn nhiều việc phải làm, đặc biệt gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong việc đền bù - di dời - giải phóng mặt bằng xây dựng ở khu quy hoạch Thủ Đức –Dĩ An.

II. NHỮNG THÀNH TỰU, THÀNH TÍCH ĐẠT ĐƯỢC QUA MỘT NĂM HOẠT ĐỘNG

Công tác chính trị, tư tưởng, đoàn thể

Công tác chính trị - tư tưởng, đoàn thể thường xuyên được Đảng ủy, Ban Giám đốc ĐHQG-HCM; lănh đạo các đơn vị quan tâm chỉ đạo. Ngoài những công tác có tính thường xuyên, năm vừa qua, toàn ĐHQG-HCM đă có nhiều hoạt động thiết thực, sáng tạo.

Về công tác Đảng. Đảng bộ ĐHQG-HCM năm qua đă làm tốt vai tṛ lănh đạo toàn diện các mặt hoạt động của đơn vị; lănh đạo các đoàn thể hoạt động đúng hướng, có hiệu quả. Qua hoạt động, tạo được sự hiểu biết, gắn bó, đoàn kết giữa các đơn vị; làm cho CBCC, SV-HS ngày càng nhận thức được trách nhiệm, ḷng tự hào của ḿnh, cùng nhau phấn đấu v́ sự nghiệp chung.

Các công tác của Đảng bộ như : tổ chức quán triệt các Nghị quyết Hội nghị TW và xây dựng chương tŕnh hành động, công tác tổ chức - cán bộ, công tác phân tích chất lượng cơ sở Đảng và đảng viên, công tác phát triển đảng viên mới, công tác bảo vệ chính trị nội bộ,…được triển khai thực hiện tốt, đảm bảo kế hoạch và có chất lượng.

Bên cạnh đó, Đảng ủy ĐHQG-HCM đă mở nhiều lớp bồi dưỡng như lớp bồi dưỡng cấp ủy mới và bí thư chi bộ; lớp bồi dưỡng kết nạo đảng viên; lớp bồi dưỡng chính trị cho đảng viên mới,…góp phần nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức Đảng.

Công đoàn ĐHQG-HCM chỉ đạo, phối hợp với các công đoàn cơ cơ sở tiếp tục duy tŕ, phát triển lên tầm cao hơn các các phong trào quần chúng, như phong trào Kỷ cương -  t́nh thương -  trách nhiệm, Gia đ́nh văn hóa,  Giỏi việc trường - đảm việc nhà,…

Phong trào Xanh - sạch - đẹp, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động tại cơ quan công sở do Công đoàn ĐHQG-HCM phát động được các đơn vị ủng hộ mạnh. Đặc biệt, trường ĐH KHXH-NV, khu Linh Trung của trường ĐH KHTN là hai đơn vị hưởng ứng tích cực nhất, đă tổ chức nhiều hoạt động phong phú, hiệu quả,  thiết thực.

Bốn chương tŕnh hành động: Nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ CBCC; Chăm lo và cải thiện đời sống cho CBCC; Tổ chức CBCC tích cực tham các cuộc vận động và phong trào quần chúng; Xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh đă bước đầu có tác dụng tốt.

Quy chế dân chủ trong trường học được triển khai và thực hiện tốt ở hầu hết các cơ sở. Trong năm qua hầu như không có đơn thư  khiếu nại, khiếu tố trong phạm vi ĐHQG-HCM.

Đoàn thanh niên, Hội sinh viên đă tổ chức triển khai nhiều  chương tŕnh hành động, trong đó các chương tŕnh v́ sự phát triển của thanh niên; xung kích v́ tổ quốc v́ cộng đồng; v́ đàn em đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, được đánh giá cao. Nhiều cơ sở Đoàn, Hội tổ chức liên hoan sinh viên tiêu biểu để tiến tới liên hoan sinh viên tiêu biểu ĐHQG-HCM.

Đoàn Thanh niên ĐHQG-HCM phát động cuộc vận động “người cộng sản trẻ” tạo nguồn quần chúng thanh niên ưu tú giới thiệu cho Đảng. Kết quả, trong năm qua, 16 sinh viên đă được kết nạp vào hàng ngũ của Đảng. Đây là phương thức vận động mới, có hiệu quả, cần duy tŕ và mở rộng trong thời gian tới.

Sau chuyến thăm của Tổng Bí Thư  Nông Đức Mạnh và các đồng chí lănh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước vào tháng 3/2002, ĐHQG-HCM đă triển khai sâu rộng đợt sinh hoạt chính trị “ĐHQG-HCM quán triệt và thực hiện chỉ thị của Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh”. Đợt sinh hoạt đă tạo nên không khí thật sự phấn khởi trong toàn ĐHQG-HCM, đồng thời củng cố và tăng cường niềm tin, ḷng tự hào của CB-CC, sinh viên về sự đúng đắn của mô h́nh ĐHQG, về con đường phát triển đi lên của ĐHQG-HCM. Quán triệt chỉ thị, từng đơn vị đă xây dựng chương tŕnh hành động cụ thể, với mục tiêu cao nhất là hoàn thành thật tốt nhiệm vụ năm học 2001-2002, củng cố nền tảng, tạo tiền đề cho những năm tới.

Trong hè vừa qua đă có hơn 1.700 sinh viên ĐHQG-HCM tham gia chiến dịch mùa hè xanh ở 2 tỉnh Gia Lai và Bến tre. Trong 1 tháng, các chiến sĩ mùa hè xanh của ĐHQG-HCM đă làm được 55 căn nhà t́nh thương, 46 cầu bê tông, 6 cây cầu vượt suối. Đặc biệt, sinh viên đă ứng dụng KH-KT để thực hiện một số công tŕnh hết sức thiết thực cho bà con như b́nh lọc nước, làm cầu bê tông, xử lư nước phèn, chế tạo máy xe chỉ xơ dừa,…. Chiến dịch mùa hè xanh đă thật sự trở thành học kỳ xanh của sinh viên; đó là nơi để sinh viên học tập, lao động sáng tạo, rèn luyện bản lĩnh, nhân cách, lối sống vững vàng để đáp ứng những yêu cầu to lớn, khó khăn và đầy vinh quang mà đất nước đang đ̣i hỏi.

Về phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học,

Được sự quan tâm chỉ đạo và hỗ trợ của các cấp, phong trào nghiên cứu khoa học trong sinh viên ĐHQG-HCM ngày càng phát triển mạnh về số lượng lẫn chất lượng đề tài và cả người tham gia. Có thể liệt kê ra đây một số thành tích nổi bật nhất :

Năm qua, 3 trường thành viên có 214 đề tài tham gia báo cáo tại Hội nghị (so vơi năm trước là 185), dẫn đầu về số lượng là sinh viên trường ĐH KHXN-NV với 115 đề tài.

Năm 2001, sinh viên ĐHQG-HCM chiếm nhiều giải Sinh viên nghiên cứu khoa học cấp Bộ và giải Sáng tạo kỹ thuật VIFOTEC so với năm trước ở hầu hết cơ cấu giải. 

Sinh viên ĐH KHTN đă chiếm giải nhất tuyệt đối đồng đội và 1 giải nhất 2 giải nh́ cá nhân trong cuộc thi Olympic tin học sinh viên năm 2002.

Đặc biệt, trong tháng 4/2002, trong kỳ thi Sáng tạo Robot Việt Nam 2002, sinh viên trường ĐH Bách Khoa đă giành cả ba giải đầu (nhất, nh́, ba) và giải phong trào. Đặc biệt hơn nữa, đội Telematic BK3 của trường ĐH Bách Khoa (đội đoạt giải nhất) đại diện cho Việt Nam đă vượt qua 20 đội mạnh của 19 nước tham gia cuộc thi Robot Châu Á - Thái B́nh Dương ABU 2002 được tổ chức tại Nhật cuối tháng 8 vừa qua và đă đoạt chức vô địch.

Học sinh trường PTNK thuộc ĐHQG-HCM đă đạt được thành tích cao trong các kỳ thi Quốc tế và Quốc gia :

- Học sinh Trần Vĩnh Hưng đạt huy chương bạc môn toán Châu Á - Thái B́nh dương (APMO).

- Học sinh Lâm Xuân Nhật đạt huy chương đồng (huy chương Olympic quốc tế duy nhất tại khu vực phía Nam) trong kỳ thi Olympic Tin Học quốc tế tại Hàn Quốc.

- Trong kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia đă đạt được 43 giải, dẫn đầu thành phố và khu vực phía Nam về số lượng giải.

Sinh viên nghiên cứu khoa học đă trở thành truyền thống, là một đặc điểm nổi bật, đáng tự hào của sinh viên ĐHQG-HCM, không phải ở đâu cũng có được, cần được tiếp tục khơi dậy, nuôi dưỡng và phát triển mạnh mẽ hơn nữa.

Công tác tổ chức - cán bộ, xây dựng đội ngũ.   

Cho đến nay, việc củng cố bộ máy tổ chức ĐHQG-HCM về cơ bản hoàn thành một bước quan trọng. Ban Giám đốc đă được kiện toàn; các Ban Đào tạo, Công tác chính trị – Sinh viên đă được bổ nhiệm nhân sự lănh đạo; Ban QLDA đă được củng cố, tăng cường nhân sự và hiện đang triển khai tốt công tác XDCB tại khu quy hoạch của ĐHQG-HCM. Ở cấp trường, việc giới thiệu - bổ nhiệm Hiệu trưởng và các phó Hiệu trưởng, các chức danh trưởng phó Pḥng chức năng cũng đă hoàn thành theo đúng quy tŕnh, quy định.

Để tăng cường đội ngũ về số lượng cũng như chất lượng theo như phương hướng, nhiệm năm học 2001-2002 đă đặt ra, ĐHQG-HCM đă tổ chức thi tuyển và xét tuyển công chức ngạch Giảng viên và đă tuyển được 223 người, trong đó có nhiều người đă có bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ. Trong kỳ thi nâng lên ngạch GVC đă có 125 Giảng viên đạt kết quả và đă được Giám đốc ĐHQG-HCM bổ nhiệm vào ngạch tương ứng.

Về biên chế, trong năm học 2001-2002, Chính phủ đă bổ sung cho ĐHQG-HCM tổng cộng 468 biên chế, trong đó có 443 biên chế sự nghiệp giáo dục và 25 biên chế sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Theo đề nghị của ĐHQG-HCM, Bộ công an cũng đă thoả thuận về việc giải quyết đăng kư hộ khẩu thường trú cho CCVC được ĐHQG-HCM tiếp nhận từ nơi khác chuyển về. Có thể nói, đây là những điều kiện hết sức thuận lợi dành cho ĐHQG-HCM, chúng ta hết sức trân trọng và nhất thiết phải có kế hoạch sử dụng hiệu quả nhất.

Về công tác xét phong chức danh GS-PGS, đợt năm 1997 đă được công bố, theo đó, ĐHQG-HCM được phong 01 GS và 21 PGS. Đợt năm 2002, ĐHQG-HCM đă tổng hợp và nộp hồ sơ về Hội đồng CDGSNN, trong đó gồm có 3 hồ sơ GS và 40 hồ sơ PGS. Nếu như 43 nhà giáo lần này đều được xét công nhận chức danh, cộng với 22 vị của đợt 1997 th́ chúng ta sẽ đạt chỉ tiêu là nâng tổng số GS, PGS của ĐHQG-HCM lên gấp đôi trong năm học 2001-2002, cụ thể ta sẽ có 129 GS-PGS so với 64 tính đến năm 2001.

Thực hiện mục tiêu đột phá về xây dựng đội ngũ CBCC trong chiến lược, thời gian qua toàn ĐHQG-HCM đă tích cực xây dựng đề án “Xây dựng đội ngũ giai đoạn 2002-2007” và đă được Hội đồng KH-ĐT ĐHQG-HCM đóng góp ư kiến và thông qua. Đề án sẽ được triển khai thực hiện sau Hội nghị này.

Công tác xây dựng các văn bản pháp quy - công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch

Xây dựng các văn bản pháp quy

Ngay sau khi được tổ chức lại, nhằm cụ thể hoá quy chế về tổ chức và hoạt động ĐHQG được Thủ tướng Chính phủ ban hành và các văn bản pháp quy liên quan khác,  ĐHQG-HCM đă bắt tay ngay vào việc soạn thảo và ban hành các quy chế, quy định để làm cơ sở điều hành các mặt hoạt động trong phạm vi ĐHQG-HCM. Nếu tính từ  tháng 4/2001 cho đến nay, Giám đốc ĐHQG-HCM đă kư và ban hành được 13 quy chế - quy định, trong đó có 07 văn bản liên quan đến đào tạo ĐH và SĐH, số c̣n lại thuộc về tổ chức - cán bộ và thi đua (phụ lục 1).

Các văn bản này đă nhanh chóng được các đơn vị thành viên/trực thuộc triển khai áp dụng. Nhờ đó các hoạt động đă dần đi vào nề nếp, theo đúng quy tŕnh, đạt hiệu quả ngày càng cao hơn. 

Chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch.

Công tác chỉ đạo, điều hành công việc, sinh hoạt hội họp đă dần dần đi vào nề nếp, quy củ, cụ thể :

- Các cuộc họp Ban Giám đốc ĐHQG hàng tháng, giao ban với lănh đạo các đơn vị thành viên/trực thuộc hai tháng một lần được duy tŕ thường xuyên với chất lượng ngày càng được nâng cao. Nội dung các cuộc họp được thông báo đến tất cả các đơn vị.

- Hội đồng ĐHQG và Hội đồng Khoa học - Đào tạo đă phát huy tốt được vai tṛ trong việc giải quyết những vấn đề lớn của ĐHQG-HCM.

- Lănh đạo ĐHQG-HCM thường xuyên tổ chức đi kiểm tra, làm việc với các cơ sở để nắm bắt t́nh h́nh, kịp thời giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc, đôn đốc các đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Công tác đào tạo

Đào tạo bậc đại học

Việc ban hành các quy chế, quy định về đào tạo đă góp phần vào việc đưa các hoạt động đào tạo vào nề nếp, kỷ cương, tạo điều kiện cho việc chuyển biến về chất lượng giảng dạy và học tập.

Trong năm học 2001-2002, toàn ĐHQG-HCM đă đào tạo cho xă hội gần 6.500 cử nhân - kỹ sư, trong đó tỷ lệ giỏi, khá giỏi đều tăng, tỷ lệ trung b́nh có giảm so với các năm trước. Theo báo cáo, th́ hầu hết sinh viên khối ngành kỹ thuật - công nghệ có việc làm từ những năm cuối, trong đó có gần 92% sinh viên có việc làm đúng với ngành nghề đào tạo; trên 80% sinh viên khối ngành khoa học tự nhiên có việc làm sau 6 tháng tốt nghiệp. Riêng khối ngành KH XH-NV chưa có số thống kê cụ thể.

Về quy mô tuyển sinh, hệ cao đẳng giảm mạnh (34,2%), hệ tại chức giữ mức cũ, không tăng. Xu hướng này phù hợp với mục tiêu giảm đào tạo hệ cao đẳng và các hệ không chính quy, để tập trung cho hệ đại học chính quy như trong chiến lược chung của ĐHQG-HCM.

Phương thức đào tạo CNTT bậc đại học qua mạng tin học viễn thông đă và đang được triển khai trong ĐHQG-HCM. Đây là nhân tố mới trong phạm vi cả nước, có chiều hướng phát triển tốt, cần được đầu tư cải tiến, hoàn thiện.

Việc đào tạo khối kiến thức cơ bản tại cơ sở Linh trung được thực hiện trong năm đầu tiên có nhiều cố gắng, bước đầu ổn định được sự phối hợp điều hành giảng dạy (mời thầy giảng, sắp xếp pḥng học, phối hợp thời khóa biểu…); một bộ phận khá lớn sinh viên đă được đưa lên học tập trong một khuôn viên đẹp và khá hoàn chỉnh về cơ sở vật chất. Tuy nhiên, vẫn c̣n bộc lộ nhiều khâu cần phải được điều chỉnh trong công tác điều hành như việc thanh toán giờ giảng cho CBGD c̣n bị chậm trễ; việc quản lư sinh viên trong khuôn viên khu Linh Trung chưa nhất quán trong chỉ đạo..v.v..

Do kế hoạch đào tạo, điều kiện vật chất - kỹ thuật, ăn ở sinh hoạt cho sinh viên được chuẩn bị tốt từ đầu năm, Trung tâm Giáo dục quốc pḥng thuộc ĐHQG-HCM (là trung tâm lớn nhất trong 7 trung tâm GDQP của cả nước) đă hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy năm học trong phạm vi ĐHQG-HCM cũng như cho các trường bạn được phân công phụ trách, mặc dù khối lượng công việc có tăng so với năm học trước.

 Đào tạo sau đại học

Năm qua các Trường, Viện thành viên đă đào tạo cung cấp cho xă hội 363 thạc sĩ  và 31 tiến sĩ. Số lượng này không nhỏ, nhưng cần phải phấn nhiều hơn nữa để đạt chỉ tiêu là từ năm 2005, hàng năm ĐHQG-HCM sẽ đào tạo 750 Thạc sĩ và 70 Tiến sĩ.

Quy mô tuyển sinh sau đại học đă tăng đáng kể từ 829 của năm 2001 lên 1.124 (tăng 26,24% đảm bảo chỉ tiêu trong chiến lược là tăng không dưới10%/năm). Tăng chủ yếu là do số lượng học viên cao học tăng nhanh (từ 790 của năm 2001 tăng lên 1.078 năm 2002). Đáng lưu ư là năm nay, ĐHQG-HCM đă được Bộ đồng ư cho tuyển vượt 278 chỉ tiêu NSNN. Số vượt này sẽ được đào tạo theo h́nh thức đóng học phí. Đây là nét mới của công tác tuyển sinh SĐH có trước tiên ở ĐHQG-HCM.

Đào tạo cao học từ xa qua mạng viễn thông, trước mắt là chuyên ngành Tin học cũng đang được bàn bạc, nghiên cứu triển khai.

Việc mở ngành mới

Được chủ động trong việc mở ngành học, trong năm học qua, ĐHQG-HCM duyệt cho các trường mở được 4 chuyên ngành cao học, 2 chuyên ngành nghiên cứu sinh và 6 ngành đào tạo đại học đảm bảo về điều kiện đội ngũ, cơ sở vật chất - kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu xă hội, tuân thủ đúng theo quy chế đă ban hành.

T́nh h́nh nghiên cứu khoa học công nghệ, triển khai ứng dụng, hợp tác trong nước và hợp tác quốc tế

Công tác nghiên cứu KHCN, triển khai ứng dụng

Trong năm qua, nhờ có sự quan tâm của nhà nước, kinh phí sự nghiệp khoa học đầu tư cho ĐHQG-HCM tăng từ 13,782 tỷ năm 2001 lên 22,224 tỷ đồng năm 2002 (tăng 62,1%). Nguồn lực đầu tư này (phụ lục 3) đă được phân bố hợp lư cho các nhiệm vụ KHCN của  ĐHQG-HCM và được sử dụng cụ thể như sau :

- Tiếp tục triển khai 6 đề tài cấp Nhà nước thuộc các chương tŕnh KHCN trọng điểm; 2 đề tài độc lập cấp Nhà nước, trong đó đă nghiệm thu đề tài MEKOGIS trong tháng 8 năm 2002. Kinh phí cho các đề tài này tăng 8,5% so với năm trước.

- Năm 2002, đă mở mới được 3 dự án sản xuất thử – thử nghiệm cấp Nhà nước với kinh phí tăng 380% so với năm trước.

- 28 nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sẽ được tiếp tục thực hiện với kinh phí 1,432 tỷ đồng so với 982 triệu năm 2001, tăng 46 %.

- Về các nhiệm vụ cấp Bộ, tiếp tục 20 đề tài trọng điểm ĐHQG đă được duyệt năm 2001 với kinh phí tăng 107%; ngoài ra 90 đề tài cấp Bộ khác cũng đang được triển khai. So với năm 2001, số lượng đề tài loại này tăng lên đáng kể đồng thời kinh phí cũng tăng với tỷ lệ là 31%.

- Trong công tác tăng cường trang thiết bị, sẽ tiếp tục các dự án đă phê duyệt trước đây. So với năm 2001, đầu tư trang thiết bị từ vốn sự nghiệp khoa học năm và từ  vốn xây dựng cơ bản tăng lên 3 tỷ đạt tỷ lệ 21,4 %.

- Các trường, viện thành viên, các trung tâm đă triển khai nhiều hơn năm trước các chương tŕnh hợp tác với các địa phương về đào tạo, nghiên cứu khoa học cơ bản (tự nhiên, xă hội - nhân văn) , kỹ thuật công nghệ, chuyển giao công nghệ. Đặc biệt, trong tháng 7/2002 vừa qua, ĐHQG-HCM và TP HCM đă tiến hành kư kết “Chương tŕnh hợp tác về khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2002-2005”, bao gồm 4 chương tŕnh thành phần :

(1).Nghiên cứu ứng dụng KHCN phục vụ phát triển TP HCM.

(2).Hợp tác thực hiện chương tŕnh mục tiêu phát triển CNTT TP HCM đến năm 2005.

(3).Đào tạo 300 Thạc sĩ, Tiến sĩ trẻ giai đoạn 2001-2005 của TP HCM.

(4).Hợp tác xây dựng pḥng thí nghiệm chất lượng cao.

Có thể nói, trong năm qua, toàn ĐHQG-HCM đă có sự chuyển biến mạnh về công tác nghiên cứu KH và CN. Chúng ta đă tích cực tham gia các chương tŕnh KHCN cấp nhà nước. Phong trào nghiên cứu khoa học từng bước được khơi dậy trong CBGD, ư thức về nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được nâng cao. Bước đầu tăng cường năng lực nghiên cứu cho một số ngành trọng điểm. Các đơn vị tiếp nhận đầu tư đă phát huy tốt hiệu quả sử dụng thiết bị, được Bộ KHCN-MT đánh giá cao. Các trung tâm KHCN hoạt động hiệu quả, tích cực đưa tiến bộ kỹ thuật vào cuộc sống. Nghiên cứu cơ bản đă có chiều hướng phát triển tốt.

Nh́n chung, phần lớn các dự án, đề tài trong ĐHQG-HCM năm qua đều hướng tới việc phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống, dần dần khẳng định được uy tín đối với xă hội.

Công tác quan hệ quốc tế

Với chủ trương tăng nhanh số lượng và chất lượng hợp tác quốc tế, chú trọng các quan hệ thực chất, có hiệu quả, trong năm học vừa qua, ĐHQG-HCM và các trường thành viên đă cố gắng tăng cường các cuộc tiếp xúc quốc tế, tổ chức các đoàn đi nước ngoài để học tập kinh nghiệm, t́m kiếm đối tác để kư kết hợp tác.

Các trường, viện thành viên và các đơn vị trực thuộc đă rất chủ động trong việc liên kết, hợp tác về đào tạo, nghiên cứu khoa học với các trường, viện lớn, có uy tín thuộc nhiều nước khác nhau trên thế giới và đang mang lại nhiều kết quả khả quan. Đào tạo theo h́nh thức chuyển đổi 2+2 cho bậc đại học, 1+1 cho bậc cao học được triển khai khá mạnh ở trường ĐH Bách Khoa, ĐH KHXH-NV và trung tâm Đào tạo quốc tế. Phương thức đồng hướng dẫn cao học, nghiên cứu sinh; đưa cán bộ đi thực tập sinh cao học, nghiên cứu sinh được các trường ĐH Bách Khoa, ĐH KHTN rất quan tâm xây dựng và phát triển.

Có thể thấy, các chương tŕnh đào tạo chuyển tiếp cho các bậc học đang diễn ra ở các đơn vị là phương thức hợp tác đào tạo có hiệu quả và phù hợp với điều kiện hiện nay của người học và của cả nhà trường.

Các chương tŕnh hợp tác quốc tế về NCKH đă có chuyển biến tốt ở hầu hết các trường, viện thành viên tuy quy mô c̣n khiêm tốn. Các Hội thảo, Hội nghị khoa học, các lớp học quốc tế được thường xuyên tổ chức ở các trường thu hút nhiều cán bộ tham gia với chất lượng nội dung ngày càng được nâng cao.

Công tác cơ sở vật chất 

Công tác xây dựng cơ sở vật chất là một trong 3 mục tiêu đột phá của chiến lược trung hạn xây dựng và phát triển ĐHQG-HCM. Theo đó, trong năm qua, công tác này đă được tập trung đầu tư  mạnh cả trên tất cả các mặt tổ chức, cán bộ, chủ trương và các nguồn lực quan trọng khác.

 Về công tác kế  hoạch – tài chính

So với năm 2001, t́nh h́nh tài chính năm 2002 đă có những chuyển biến rất căn bản. Cụ thể, tổng kinh phí được giao năm 2002 là 622,96 tỷ đồng, so với năm 2001 là 120,545 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 5,17 lần. Đặc biệt, kinh phí xây dựng cơ bản năm 2002 được giao là 517 tỷ đồng so với năm 2001 là 34 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 15,2 lần. Điều này thể hiện quyết tâm đầu tư mạnh của Nhà nước cho các ĐHQG.

Cùng với nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp, ĐHQG-HCM và các đơn vị thành viên và  trực thuộc rất chú trọng đến việc khai thác các nguồn  thu sự nghiệp thông qua các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học  và hợp tác quốc tế. Cụ thể, tổng nguồn thu học phí trong năm 2001 của ĐHQG-HCM đạt là 141 tỷ đồng và các nguồn thu sự nghiệp khác : thu lệ phí, thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, cung ứng dịch vụ đào tạo, vv… đạt 165 tỷ đồng.  Đây thực sự là một nguồn lực rất quan trọng để bổ sung kinh phí hoạt động, đă đáp ứng hơn 50% nhu cầu kinh phí hoạt động của đơn vị.

Công tác quản lư tài chính, qua kiểm tra vừa qua, Kiểm toán Nhà nước đă kết luận: ĐHQG-HCM đă chấp hành các quy định của Nhà nước về quản lư và sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước cấp, phục vụ tốt chức năng và nhiệm vụ được giao …”. Kết luận của Kiểm toán NN đă phản ánh sự cố gắng và tiến bộ của toàn ĐHQG-HCM trong công tác tổ chức quản lư và sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước cấp.

 Về công tác xây dựng cơ bản

Xây dựng cơ bản của ĐHQG-HCM đă có sự chuyển biến tích cực. Có thể kể ra đây những “điểm mốc” quan trọng :

Một là, Hội nghị xây dựng cơ bản ĐHQG-HCM được tổ chức  vào tháng 01/2001, đă vinh dự được Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm và các đồng lănh đạo cáo Bộ ngành tham dự và chỉ đạo Hội nghị. Hội nghị đă cụ thể hóa chiến lược trung hạn và vạch ra được những mục tiêu, bước đi cụ thể triển khai thực hiện mục tiêu đột phá về công tác xây dựng cơ sở vật chất giai đoạn 2001-2005. Việc công bố Quyết định thành lập Ban chỉ đạo quy hoạch và xây dựng cơ bản ĐHQG-HCM và Quyết định củng cố Ban QLDA xây dựng ĐHQG-HCM đă khẳng định quyết tâm của lănh đạo, CBCC ĐHQG-HCM trong việc tập trung xây dựng, phát triển ĐHQG tại khu quy hoạch Thủ Đức – Dĩ An.

Hai là, Thủ tướng Chính phủ đă thông qua báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án xây dựng ĐHQG-HCM giai đoạn 2001-2020. Phải nói, đây là một thắng lợi quan trọng, góp phần định hướng và đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ bản. Theo đó, 12 Dự án thành phần (phụ lục 4) đă được xác định với tổng nhu cầu vốn đầu tư ước tính khoảng 6.808 tỷ đồng.

Ba là, cho đến nay, nh́n chung công tác xây dựng cơ bản của ĐHQG-HCM đă từng bước đi vào nề nếp, công việc được triển khai theo kế hoạch cụ thể. Nhiều công tŕnh quan trọng đă được khởi công xây dựng : Nhà làm việc, Thư viện điện tử và một số công tŕnh khác. Các công tŕnh này sẽ góp phần tạo diện mạo ĐHQG-HCM sau khi hoàn thành. Trước đó, nhiều hạng mục công tŕnh cũng đă hoàn thành và đưa vào sử dụng, như : nhà khởi động khu Công nghệ Phần mềm, nhà học F của trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trạm Y tế ĐHQG-HCM, hệ thống cấp nước, đường nội bộ,…

III. NHỮNG TỒN TẠI QUA MỘT NĂM HOẠT ĐỘNG CẦN KHẮC PHỤC

Trong gần một năm, lănh đạo ĐHQG-HCM và lănh đạo các đơn vị cùng thể CBCC, sinh viên - học sinh đă cùng nhau nỗ lực, phấn đấu thực hiện nhiệm vụ năm học 2001-2002 và đă đạt những kết quả quan trọng như đă nêu trên, song thực tế cũng c̣n không ít những việc chưa làm được, hoặc chỉ làm được một phần, do nhiều nguyên nhân khác nhau, cần nhanh chóng khắc phục.

Về công tác chính trị, tư tưởng, đoàn thể

Một số đơn vị chưa thực hiện tốt quy định về thời gian tổ chức Hội nghị CBCC hàng năm, có nơi rất muộn như trường ĐH KHXH-NV măi đến học kỳ II mới tổ chức được, làm giảm ư nghĩa và tác dụng của Hội nghị. Nguyên nhân là do năm qua một số đơn vị, trong đó có trường ĐH KHXH-NV triển khai công tác giới thiệu - bổ nhiệm lại Hiệu trưởng và sắp xếp lại bộ máy tổ chức -nhân sự của đơn vị.

Ban CTCT-SV chưa thể hiện rơ vai tṛ hoạch định kế hoạch, chỉ đạo, điều phối các hoạt động công tác chính trị - sinh viên, tổ chức phong trào cho các đơn vị; chưa có sự phối hợp chặt chẽ với Ban Cán sự đoàn, các BCH  đoàn cơ sở trong triển khai công tác.

– Công tác chăm lo đời sống và các mặt sinh hoạt cho sinh viên ở khu Thủ Đức - Dĩ An c̣n một số mặt chưa thật tốt như : việc tổ chức các lớp học tin học, ngoại ngữ ngoài giờ; dịch vụ internet, bưu điện; chăm sóc sức khoẻ, ăn uống, đường xá đi lại,…

– Công tác phát triển Đảng trong CBCC và sinh viên tuy đạt chỉ tiêu đề ra (50 đảng viên/năm), song chỉ tiêu như vậy là thấp so với thực tế, và thấp hơn nhiều so với các đại học lớn ở phía Bắc.

– Sự kết hợp công việc giữa Công đoàn và chính quyền có nơi, có lúc chưa thật tốt.

Về công tác tổ chức -  cán bộ

Công tác củng cố tổ chức và tăng cường nhân sự cả cán bộ quản lẫn chuyên viên diễn ra c̣n chậm, nhất là đối với cán Ban chức năng của ĐHQG-HCM. Một thời gian dài Ban CTCT-SV không có trưởng Ban (chỉ mới vừa bổ nhiệm tháng 8/2002). Ban Sau đại học thiếu người trầm trọng, hiện nay chỉ c̣n có 2 cán bộ, một trưởng Ban và một chuyên viên (mới bổ nhiệm một phó trưởng Ban tháng 8/2002).

Một số đồng chí trưởng phó Ban c̣n kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ,…V́ thế, khó có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao với chất lượng cao.

Việc bổ sung Phó hiệu trưởng và củng cố bộ máy cho trường PTNK đến nay vẫn chưa thực hiện được.

Về công tác đào tạo

Chỉ tiêu tuyển sinh đại học chính quy tăng 8,9 % so với năm 2001. Tốc độ tăng này c̣n khá lớn so với mục tiêu đề ra là chỉ tăng từ 3-5%/năm như trong chiến lược đă đề ra.

– Đào tạo tiến sĩ trong các năm qua hầu như không đảm bảo được chỉ tiêu nhà nước giao. Ví dụ, năm 2001 chỉ tuyển được 39 NCS/80 chỉ tiêu, năm 2002 chỉ tuyển được 46 NCS/70 chỉ tiêu và 22 NCS nước ngoài/30 chỉ tiêu. T́nh trạng này do nhiều nguyên nhân: nhiều cán bộ chỉ cần đạt mức thạc sĩ, sự chuẩn bị về chuyên môn và ngoại ngữ của thí sinh chưa tốt, chi phí cho đề tài quá cao, kinh phí Nhà nước cấp cho đào tạo NCS c̣n thấp, các điều kiện phục vụ thí nghiệm, nghiên cứu khoa học chưa tốt ở không ít các đơn vị đào tạo.

– Việc tổ chức thi tuyển sinh đại học bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan đă được nghiên cứu, chuẩn bị khá tốt sẵn sàng triển khai, nhưng năm qua chưa thực hiện được do những nguyên khách quan ngoài mong muốn.

Việc mở ngành học, phương thức đào tạo mới có nơi không tuân thủ thủ tục, quy tŕnh hiện hành, cụ thể như việc mở ngành học Quan hệ quốc tế hệ tại chức, đào tạo chương tŕnh đôi Nga - Anh cho sinh viên Khoa Tiếng Nga (sinh viên ra trường sẽ có thêm bằng cao đẳng tiếng Anh) ở trường ĐH KHXH-NV. Ngoài ra, Trung tâm Giáo dục thường xuyên thuộc ĐH Bách Khoa, ngoài những hoạt động theo chức năng,  hiện Trung tâm đang có tổ chức đào tạo đại học và sau đại học; có tổ chức các bộ môn, có các pḥng thí nghiệm chuyên ngành, có nghiên cứu khoa học, có quan hệ quốc tế... Hoạt động của Trung tâm đă vượt quá phạm vi chức năng và nhiệm vụ được giao. Các vấn đề tồn đọng này cần phải được tập trung giải quyết dứt điểm theo đúng quy định, quy chế hiện hành.

Về công tác tác khoa học công nghệ và triển khai ứng dụng

–  Số lượng đề tài cấp Nhà nước chưa ổn định v́ thiếu cán bộ chủ tŕ. Cần phải tích cực vận động và giao nhiệm vụ cho các cán bộ đầu đàn có trách nhiệm huy động lực lượng tham gia tuyển chọn (hiện nay chủ yếu là cá nhân).

– Việc quản lư đề tài chưa chặt chẽ và khoa học, chưa có quy chế quản lư; thủ tục thanh toán kinh phí NCKH c̣n khó khăn, phức tạp làm cán bộ ngần ngại tham gia.

– C̣n thiếu cơ chế thẩm định nội dung các dự án trang thiết bị; cách quản lư dự án c̣n nặng về bao cấp, không có cơ chế ràng buộc đơn vị tiếp nhận đầu tư.

ĐHQG-HCM và các trường chưa có các quy chế quản lư các trung tâm; các trung tâm chưa tuân thủ tốt chế độ báo cáo, nhất là về tài chính. Việc thiếu thông tin báo cáo sẽ gây khó khăn cho ĐHQG-HCM trong việc hoạch định chính sách phù hợp hoặc kịp thời uốn nắn các hiện tượng lệch lạc trong các mặt hoạt động.

– Công tác quản trị mạng ĐHQG-HCM c̣n nhiều bất cập về mặt quản lư, hoạt động không hiệu quả, thông tin nghèo nàn, chủ yếu phục vụ việc gửi - nhận thư điện tử (e-mail) cho khối cơ quan văn pḥng; không gắn kết với các đơn vị,… Nguyên  nhân chủ yếu là do chưa xác định rơ chức năng - nhiệm vụ, quyền hạn, cũng như tầm quan trọng của công tác quản trị mạng.

Công tác quan hệ quốc tế

Hiện nay phần lớn diễn ra các trường, viện, trung tâm và chủ yếu tập trung vào việc liên kết, hợp tác  đào tạo các chương tŕnh. Hợp tác về nghiên cứu KH-CN với các đơn vị nước ngoài chưa nhiều và quy mô c̣n nhỏ. Ở cấp  ĐHQG-HCM, các công tác đoàn ra - đoàn vào, tiếp đón các đoàn khách quốc tế được thực hiện tốt, tạo được mối quan hệ tốt đối với các tổ chức, đơn vị nước ngoài đến thăm và làm việc, tuy nhiên, chưa thật sự phát huy tốt vai tṛ quản lư vĩ mô, làm đầu mối điều phối các hoạt động hợp tác.

Về công tác kế hoạch – tài chính

ĐHQG-HCM vẫn chưa triển khai việc giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị. Nguyên nhân chậm trễ là do : qua công tác thẩm định, ĐHQG-HCM thấy rằng, dự toán năm 2002 của nhiều đơn vị sự nghiệp có thu chưa phản ảnh đầy đủ toàn bộ các hoạt động thu - chi hiện hữu của đơn vị, đặc biệt là bỏ sót hoạt động thu - chi của các Trung tâm, đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc trường.

Việc tổ chức bộ máy và phân công các phần hành kế toán ở một số đơn vị c̣n trùng lặp, kiêm nhiệm, không đảm bảo tính độc lập khách quan đối với yêu cầu kiểm tra, kiểm soát của công tác này. Đội ngũ CBCC làm công tác KH -TC chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu của t́nh h́nh mới, nhất là việc triển khai Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu.

Về công tác xây dựng cơ bản

ĐHQG-HCM đă được Nhà nước ưu tiên đầu tư về XDCB. Tuy nhiên, do phải đảm bảo các quy tŕnh, thủ tục phức tạp về quản lư vốn XDCB nên tiến độ giải ngân thấp. Công tác  di dời - đền bù - giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn, trở ngại nên việc thi công xây dựng các công tŕnh trọng điểm của ĐHQG-HCM thường bị chậm trễ so với tiến độ quy định.

Việc huy động  nguồn nhân lực, tài lực của các trường, viện thành viên tham gia quản lư và triển khai các dự án thành phần trên khu quy hoạch Thủ Đức – Dĩ An c̣n ở mức độ thấp. Quy định tạm thời về phân cấp, phối hợp hoạt động của các Ban QLDA xây dựng cơ bản trong ĐHQG-HCM đến nay chưa được ban hành.

IV. NHỮNG BÀI HỌC CHỦ YẾU SAU MỘT NĂM THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐHQG-HCM  

Từ  những việc làm được, chưa làm được trong cũng như ngoài kế hoạch qua một năm thực hiện chiến lược như đă nêu, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu sau đây :

Đoàn kết, thống nhất ư chí, xem ĐHQG-HCM là ngôi nhà chung là bài học kinh nghiệm quan trọng nhất. Có như thế mới phát huy được sức mạnh tổng hợp, khơi dậy mọi tiềm năng, động viên mọi tiềm lực cùng hướng đến mục tiêu chung. Phát huy tốt dân chủ cơ sở, mọi chủ trương lớn của ĐHQG-HCM đều phải được bàn bạc, thảo luận công khai. Thực hiện tốt dân chủ sẽ tăng cường sự đoàn kết, thống nhất ư chí.

Trong hoạt động quản lư, cần thông nhất giữa lănh đạo tập trungphân cấp quản lư. ĐHQG-HCM cần mạnh dạn chủ động triển khai các nhiệm vụ đă được phân cấp rơ trong quy chế. ĐHQG-HCM tập trung hoạch định kế hoạch, chiến lược, chính sách phát triển; điều hành hoạt động ở tầm vĩ mô, không làm thay những công việc của cơ sở. Lănh đạo các cấp cần đi sát cơ sở để nắm bắt t́nh h́nh, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong quá tŕnh hoạt động.

Tất cả hoạt động cần đảm bảo đầy đủ tính pháp lư. Văn bản pháp quy cao nhất quy định, điều chỉnh mọi hoạt động của ĐHQG-HCM là Quy chế tổ chức và hoạt động của ĐHQG do Chính phủ ban hành. Mọi hoạt động để đi đến kết quả như mong muốn, tránh được mọi sai sót, sai phạm, nhất thiết phải tuân thủ, bám sát quy chế, quy định và quy tŕnh đă được ban hành.

Thực hiện đầy đủ chế độ báo báo thường kỳ mọi hoạt động của ĐHQG-HCM với lănh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ GD-ĐT, các Bộ ngành liên quan, các địa phương nơi ĐHQG-HCM trú đóng để có sự chỉ đạo kịp thời, mạnh dạn tăng cường đầu tư, hỗ trợ về mọi mặt, thúc đẩy nhanh quá tŕnh xây dựng và phát triển ĐHQG-HCM. Trong phạm vi nội bộ ĐHQG-HCM, cần duy tŕ và không ngừng cải tiến nội dung các cuộc họp thường kỳ Ban Giám đốc, Giao ban; phát huy vai tṛ các Hội đồng ĐHQG, Hội đồng Khoa học - Đào tạo ĐHQG. Các đơn vị thành viên và trực thuộc thực hiện chế độ báo cáo 02 tháng 01 lần trước kỳ họp giao ban chậm nhất 01 tuần.

 

 

Đại học Quốc gia TP.HCM © 2004

Khu phố 6, Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức TP.HCM

Điện thoại : 7242181 - 7242160 Fax : 7242057