BÁO CÁO
TỔNG KẾT NĂM HỌC 2002-2003
MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NĂM HỌC 2003-2004
Năm học 2002-2003, Đại
học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) tiếp tục đạt được những kết quả
rất quan trọng trong việc triển khai thực hiện Chiến lược trung hạn xây dựng
và phát triển ĐHQG-HCM giai đoạn 2001-2005 và Chương tŕnh hành động thực hiện
kết luận Hội nghị TW6 (khoá IX) về phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học
- công nghệ, đặc biệt là đă h́nh thành khối đoàn kết thống nhất trong CB-CC và
HS-SV v́ mục tiêu chung xây dựng ĐHQG-HCM vững mạnh; tăng nhanh cả về số lượng
và chất lượng nguồn lực đội ngũ cán bộ; cơ sở vật chất được xây dựng và trang
bị thêm; hoạt động đào tạo và NCKH ổn định và có bước phát triển, cùng nhiều
hoạt động khác … đă tạo nên tầm vóc mới, thế và lực mới cho ĐHQG-HCM để có
những bước tiến nhanh và vững chắc tiếp theo.
Tổng kết năm học 2002-2003 là dịp để
ĐHQG-HCM tự hào phấn khởi với những thành tựu đạt được, nhận rơ những mặt yếu
kém cần khắc phục, tranh thủ thời cơ, thuận lợi; vượt qua thách thức, khó
khăn, xác định rơ mục tiêu, t́m ra những giải pháp để thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ năm học 2003 - 2004 – năm học bản lề trong Chiến lược xây dựng và
phát triển ĐHQG-HCM.
x
x
x
Phần thứ nhất
TỔNG KẾT NĂM HỌC
2002-2003
1. Công tác chính trị – tư tưởng
Công tác chính trị - tư tưởng được
Đảng ủy, Ban Giám đốc ĐHQG-HCM và lănh đạo các đơn vị thường xuyên quan tâm
chỉ đạo. Thành tựu quan trọng nhất trong năm qua là đă củng cố và tăng cường
thêm ḷng tin, niềm tự hào, ư thức trách nhiệm của toàn thể CBCC, HS-SV cùng
nhau đoàn kết, chung sức xây dựng ĐHQG-HCM.
Trong năm học 2002 - 2003 chúng ta đă đón
nhận nhiều niềm vui và chứng kiến những sự kiện quan trong trong đời sống
chính trị của ĐHQG-HCM. Đó là, ngay từ những ngày đầu năm học đă vinh dự được
đón tiếp Chủ tịch nước Trần Đức Lương cùng đoàn cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà
nước đến thăm và làm việc. Gần đây, Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng,
Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đă đến thăm và có các ư kiến chỉ đạo quan trọng,
giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc của ĐHQG-HCM.
Cũng trong năm học 2002 - 2003, trong đội
ngũ các thầy cô giáo của ĐHQG-HCM đă được Nhà nước phong tặng 4 danh hiệu
NGND, 9 danh hiệu NGƯT; công nhận 3 chức danh Giáo sư, 25 chức danh Phó giáo
sư. Trường ĐH Bách Khoa, trường ĐH KHTN được Chủ tịch nước tặng Huân chương
Độc lập hạng III, trường ĐH KHXH&NV được tặng Huân chương Lao động hạng I.
Năm qua,
Đảng bộ ĐHQG-HCM đă tổ chức
mở các lớp Quán triệt Nghị quyết TW7 (khóa IX), lớp bồi dưỡng kết nạp Đảng
cho 940 quần chúng, trong đó có 565 là sinh viên; tổ chức Hội nghị chuyên đề
về công tác phát triển Đảng trong CBGD trẻ và sinh viên. Đảng bộ đă kết nạp
được 57 đảng viên mới, trong đó có 25 là sinh viên.
Công đoàn ĐHQG-HCM
đă tổ chức nhiều hoạt động có
ư nghĩa thiết thực, góp phần xây dựng “mái nhà chung”, như : tổ chức kỷ niệm
các ngày lễ lớn, các buổi giao lưu, Hội diễn văn nghệ, thi đấu TD-TT, tổ chức
trại hè cho thiếu nhi. Các công đoàn cơ sở thực hiện tốt công tác đền ơn đáp
nghĩa, xây dựng nhà t́nh nghĩa; nuôi dưỡng bà mẹ VNAH, vận động CBCC mua công
trái, chăm lo đời sống : tổ chức khám sức khỏe, nghỉ hè, tham quan học tập cho
CBCC, trao học bổng Nguyễn Đức Cảnh cho các cháu.
Đoàn TNCS HCM và
Hội sinh viên đă có nhiều hoạt động sôi nổi, có ư nghĩa.
- Gần 3.000 SV ĐHQG-HCM
tham gia “Chiến dịch mùa hè xanh 2003” (so với năm 2002 có 1.700). Ngoài quy
mô lớn hơn, các nội dung hoạt động “Chiến dịch mùa hè xanh” năm nay đi vào
chiều sâu, thiết thực, hiệu quả hơn như xây cầu, làm đường, xây dựng nhà t́nh
thương, nhà t́nh nghĩa, chuyển giao công nghệ, xóa mù chữ, tổ chức phong trào
văn hóa - văn nghệ,… được chính quyền địa phương và bà con hết sức hoan nghênh
và ủng hộ.
- Sinh viên ĐHQG-HCM có truyền thống về học
tập, nghiên cứu khoa học, thi đấu quốc gia, quốc tế. Được quan tâm đầu tư, năm
qua, HSSV ĐHQG-HCM tiếp tục đạt được nhiều giải thưởng: cuộc thi Robocon toàn
quốc năm 2003; Olympic các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh lần
thứ II, Olympic toán học lần thứ 11, giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa
học cấp Bộ” (phụ lục 3), giải Vifotec, giải Eureka. Trường PTNK có em Nguyễn
Đăng Khoa, học sinh lớp 11 đoạt huy chương bạc trong kỳ thi Olympic toán học
tổ chức tại Nhật Bản.
2. Tổ chức – Cán bộ
2.1. Công tác xây dựng đội ngũ
Đây là công tác quan
trọng được ĐHQG-HCM cùng với các đơn vị đang tập trung triển khai và đạt được
những kết quả bước đầu.
Năm 2003 tuyển dụng 231 công chức gồm 176
Giảng viên, 13 Nghiên cứu viên và 42 Chuyên viên nâng tổng số CB-CC của
ĐHQG-HCM lên hơn 2.500 người (nếu tính từ năm 2001 đă tuyển dụng 454 người
trên 468 chỉ tiêu được giao). Nâng ngạch cho 68 công chức gồm 33 Giảng viên
chính, 22 Chuyên viên chính và 13 Chuyên viên.
ĐHQG-HCM đă cử 191 người đi học nước ngoài,
trong đó 18 người đi học tiến sĩ, 20 học thạc sĩ, 106 thực tập sinh và 47
người đi khảo sát. Ngoài ra, trong năm qua, ĐHQG-HCM đă tiếp nhận về 9 tiến sĩ
và 8 thạc sĩ, góp phần tăng nguồn nhân lực cho các đơn vị.
2.2. Thành lập các đơn vị mới.
(1) Khoa "Khoa học ứng dụng" của
trường ĐH Bách Khoa trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên.
(2) Khu Công nghệ phần mềm ĐHQG-HCM
đă ra đời và có quy chế tổ chức và hoạt động. Ban lănh đạo đang xác định rơ
hơn phương hướng và nội dung hoạt động, t́m kiếm nguồn lực để khai thác hiệu
quả công tŕnh.
(3) Thư viện Trung tâm
ĐHQG-HCM (UCL) đă được thành lập. Ban
lănh đạo và cán bộ khung đă h́nh thành, đang tiến hành các công tác chuẩn bị
để đưa Thư viện vào hoạt động.
Riêng Trường Đại học quốc tế đang
được tiến hành thẩm định để
tŕnh Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt và Công ty cổ phần Dịch vụ KHCN và phát triển nguồn
lực của ĐHQG-HCM đang được xúc tiến thành lập (đây là công ty thứ hai sau
công ty cổ phần tư vấn Bách Khoa đă được thành lập và đang hoạt động có hiệu
quả).
2.3. Xây dựng văn bản pháp quy
Với mục đích đưa các hoạt động vào nề nếp,
chính quy, đạt hiệu quả cao,
ĐHQG-HCM đă xây
dựng và ban hành các văn bản : Quy chế về đào tạo và bồi dưỡng CBCC; Quy định
về chế độ ưu đăi và thu hút nguồn lực về ĐHQG-HCM; Quy chế về nội dung và
h́nh thức tôn vinh của ĐHQG-HCM;
Quy
định tạm thời về quản lư dự án đầu tư xây dựng
và một số quy định, quy chế khác (phụ lục 1).
Riêng Quy chế quản lư, điều động, luân
chuyển CB-CC trong ĐHQG-HCM chưa hoàn thành v́ đây là việc khó, cần đầu tư
thêm về thời gian và công sức.
3. Công tác chuyên môn
Việc nâng cao chất lượng đào tạo luôn là
nhiệm vụ hàng đầu, là mục tiêu số một. Năm học 2002-2003, ĐHQG-HCM đă đào tạo
và cung cấp cho xă hội gần 7.000 cử nhân - kỹ sư chính quy, 350 thạc sĩ và 23
tiến sĩ (phụ lục 2) được xă hội chấp nhận và đánh giá tốt.
Nh́n lại một năm hoạt
động, chúng ta đă hoàn thành tốt những công tác chuyên môn lớn sau đây :
3.1. Đào tạo đại học
Về quy mô tuyển sinh :
Quy
mô tuyển sinh chính quy chỉ tăng nhẹ (dưới 5%), tuyển sinh hệ tại chức, bằng
2, cao đẳng không tăng. Điều này phù hợp với mục tiêu đă được đề ra.
Về tổ chức đào tạo khối kiến thức cơ
bản :
Hiện tại số sinh viên đang
theo học tại Linh Trung dao động từ 6.000 đến 11.000. Công tác tổ chức đào tạo
được các trường quan tâm và cử cán bộ tham gia điều hành, quản lư. Tuy vậy,
việc quản lư và đảm bảo chất lượng đào tạo ở đây chưa được quan tâm đúng mức,
hoạt động phục vụ đào tạo như ăn ở, sinh hoạt cũng chưa đi vào nề nếp.
Đào tạo theo học chế tín chỉ
ngày càng chứng tỏ những ưu điểm của nó tại hai trường thành viên ĐH Bách
Khoa, ĐH KHTN và được hai đơn vị này cải tiến, hoàn thiện. Tuy nhiên, cho đến
nay việc triển khai học chế này ở trường ĐH KHXH-NV và Khoa Kinh tế vẫn chưa
được bắt đầu.
Chương tŕnh đào cử nhân - kỹ sư tài năng
đă được triển khai từ năm học
2002-2003 ở ngành đào tạo : CNTT, Kỹ thuật chế tạo, Toán – tin, Vật lư, Ngữ
văn Anh, Văn, Sử, Đông phương với 216 sinh viên. Chương tŕnh này là mẫu h́nh
cho việc nâng cao chất lượng đào tạo, được đầu tư về đội ngũ giảng dạy, kinh
phí, trang thiết bị, sĩ số ít, nội dung chương tŕnh giảng dạy mới…Chương
tŕnh sẽ được phát triển trong những năm sau, tạo điều kiện thúc đẩy nâng cao
chất lượng hệ đại trà. Đánh giá bước đầu, chương tŕnh đă đi đúng hướng và đạt
kết quả khả quan.
3.2. Đào tạo sau đại
học
- Về quy mô đào tạo,
năm 2003 ĐHQG-HCM đă tuyển 1.182 học viên CH và 107 NCS so với chỉ tiêu 1.100
CH, 100 NCS. So với năm 2002, quy mô tuyển sinh năm nay tăng 13,17% (đạt yêu
cầu của Chiến lược là tăng không dưới 10%/năm). Tuyển sinh đi học SĐH nước
ngoài bằng NSNN cũng đạt được kết quả tốt, các cơ sở đào tạo thuộc ĐHQG-HCM
tuyển được 60 CBCC đi học SĐH và thực tập sinh.
- Với
mục đích đưa công tác đào tạo SĐH đi vào nề nếp, t́m kiếm giải pháp nâng cao
chất lượng đào tạo, ĐHQG-HCM đă thực hiện một số biện pháp như : họp giao ban
SĐH thường kỳ, tổ chức Hội thảo nâng cao chất lượng
đào tạo, đánh giá chất lượng đào tạo SĐH;
xây dựng và triển khai các đề
án như Đề án đào tạo tiến sĩ phối hợp bằng ngân sách nhà nước tại
ĐHQG-HCM; Đề án thành lập Trung tâm bồi dưỡng nguồn đào tạo tiến sĩ
và Đề án thi chung môn ngoại ngữ tiếng Anh trong toàn ĐHQG-HCM. Triển
khai thử nghiệm chương tŕnh đào tạo thạc sĩ qua mạng viễn thông.
3.3. Công tác giáo tŕnh
Công tác này được đặc biệt coi trọng. Kinh
phí công tác giáo tŕnh được đầu tư là 3 tỷ so với 979 triệu của năm học
2001-2002. Tính đến nay, đă có 247 đầu sách được in ấn, đưa tổng số đầu sách
giáo tŕnh được biên soạn, in ấn lên 592 trong ṿng 2 năm, đáp ứng phần lớn
nhu cầu tài liệu học tập cho sinh viên giai đoạn cơ bản. Tuy nhiên, đối với
giai đoạn chuyên ngành bậc ĐH, bậc SĐH th́ c̣n thiếu nhiều. Trung tâm PTCNTT
cũng đă hoàn tất hệ thống giáo tŕnh giai đoạn cơ bản cho hệ đào tạo cử nhân
qua mạng.
3.4. Mở ngành mới
Công
tác này đă từng bước được chuẩn hóa theo quy tŕnh. Hai ngành đào tạo mới bậc
ĐH cùng
11 chuyên ngành CH và 2 chuyên ngành NCS đă được mở trong năm học qua,
nâng tổng số ngành và chuyên ngành đào tạo ĐH, CH, NCS lên tương ứng là 109,
76 và 77.
4. Khoa học công nghệ - Quan hệ hợp tác
4.1. Khoa học công nghệ
- Nhờ sự đầu tư mạnh và
hiệu quả, hoạt động NCKH ngày càng phát triển và được CBGD tham gia nhiều hơn.
Năm 2003, ĐHQG-HCM
triển khai thực hiện 8 đề tài NCKH thuộc các chương tŕnh KHCN trọng điểm NN,
tiếp tục thực hiện 2 đề tài và 3 dự án sản xuất thử độc lập cấp NN.
Ngoài ra, các đơn vị
thuộc ĐHQG-HCM thực hiện 42 đề tài cấp NN, 127 đề tài cấp Bộ và 36 đề tài
trọng điểm cấp ĐHQG-HCM cùng nhiều đề tài cấp cơ sở. Tổng kinh phí hoạt động
KHCN năm 2003 là 23,31 tỷ đồng tăng 21,4% so với năm 2002, thể hiện sự cố gắng
của đội ngũ cán bộ trong việc tham gia NCKH (xem phân bổ cụ thể trong phục lục
3). Kinh phí ĐHQG
cấp cho các hoạt động cơ
sở tăng gần 86% tạo điều kiện cho các đơn vị chủ động hơn trong hoạt động khoa
học công nghệ.
Bên cạnh nguồn ngân
sách sự nghiệp khoa học, các CBGD đă đăng kư đề tài NCKH với các tỉnh thành
địa phương. Các Trung tâm KHCN đă tích cực thu hút vốn đầu tư từ các doanh
nghiệp thông qua các hợp đồng sản xuất, chuyển giao công nghệ với doanh thu
đạt khoảng 60 tỷ đồng. Nhiều đề tài, dự án gắn liền với thực tiễn sản xuất,
triển khai kết quả nghiên cứu vào thực tế, như : chế biến cà phê, chế tạo phay
cống thủy lợi bằng vật liệu composite, sản xuất phân vi sinh từ rác thải, tái
chế chất thải hóa chất, chế biến condensate trong công nghiệp dầu khí, quy
hoạch môi trường miền Đông Nam bộ, chẩn đoán bệnh người và bệnh tôm bằng kỹ
thuật sinh học phân tử,… Tuy nhiên, một số ngành mũi nhọn c̣n có ít đề tài và
dự án nghiên cứu. NCKH cho các lĩnh vực xă hội nhân văn và kinh tế chưa nhiều.
- Năm qua,
ĐHQG-HCM đă tăng cường năng lực nghiên cứu
cho 5 pḥng thí nghiệm và sửa chữa nhỏ một số Trung tâm KHCN với kinh phí hơn
5 tỷ đồng. ĐHQG-HCM đă được
Chính phủ phê
duyệt xây dựng hai Pḥng thí nghiệm trọng điểm quốc gia: (1) Điều khiển số
và kỹ thuật hệ thống; (2) Nghiên cứu vật liệu polime và composite. Hai
tiểu dự án C (WB) cũng đă được thông qua : (1) Nâng cao chất lượng đào tạo
và năng lực nghiên cứu KHCN vật liệu mới;
(2) Nâng cao năng lực và chất
lượng đào tạo quốc tế của
ĐHQG-HCM.
- Tạp chí Phát triển KHCN xuất bản được
12 số, tạo điều kiện cho CBGD, NCKH công bố kết quả nghiên cứu, hỗ trợ các Nhà
giáo trong việc làm hồ sơ phong chức danh GS-PGS.
4.2. Quan hệ Quốc tế
Quan hệ quốc tế của ĐHQG-HCM trong năm qua đă được tăng cường và mở rộng. Hơn
150 đoàn nước ngoài đă đến thăm, làm việc với ĐHQG-HCM và các đơn vị, trong đó
có nhiều đoàn từ các đại học lớn của các nước; đă kư kết được nhiều văn bản
thoả thuận hợp tác, văn bản ghi nhớ với các đối tác có uy tín nước ngoài.
Ngoài ra, cũng đă thực hiện được nhiều chương tŕnh trao đổi, chương tŕnh học
bổng cho CBGD, sinh viên học trong nước và đi học nước ngoài.
Tổ chức nhiều đoàn công tác cấp ĐHQG, cấp
trường, cấp khoa đi tham quan, học tập kinh nghiệm ở nước
ngoài đồng thời t́m kiếm cơ hội hợp
tác, liên kết và đă thu được nhiều kết quả tốt. Nhiều hội nghị, hội thảo, lớp
học chuyên đề quốc tế được
ĐHQG-HCM và các
đơn vị tổ chức thành công, thu hút được hàng trăm nhà khoa học trong và ngoài
nước tham dự.
4.3. Hợp tác trong nước
Công tác hợp tác trong nước được
quan tâm đẩy mạnh. Trong năm qua, ĐHQG-HCM đă
triển khai nhiều hoạt động như : kư kết chương tŕnh hợp tác phát triển khoa
học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực với thành phố HCM và Khu công nghệ cao;
tham gia với vai tṛ ṇng cốt Hội đồng đại học thành phố; hợp tác đào tạo sau
đại học và phát triển nguồn nhân lực với các tỉnh Tây Ninh, B́nh Dương; liên
kết với các tỉnh Tây Ninh, B́nh Thuận, Khánh Ḥa xây dựng KTX tại
ĐHQG-HCM ; thỏa
thuận, hợp tác với
ĐHQG Hà Nội trên tất cả các mặt hoạt động. Bước
đầu, các hoạt động này đă mang lại một số kết quả.
Những hoạt động trên cho thấy vị thế và uy
tín của các Trường, Viện thành viên, các đơn vị trực thuộc nói riêng và của
ĐHQG-HCM nói chung đă được khẳng định và nâng cao. Ngày càng nhiều các cơ sở
trong và ngoài nước muốn có quan hệ trao đổi hợp tác với chúng ta.
5. Tài chính – cơ sở
vật chất
5.1. Kế hoạch - Tài chính
Năm 2002 ĐHQG-HCM
được Nhà nước quan tâm đầu tư nhiều hơn, kinh phí đầu tư XDCB tăng gấp 15 lần
so với năm 2001, ngân sách chi thường xuyên tăng 37,8%.
- Ngân sách XDCB tăng
giúp ĐHQG-HCM đẩy nhanh tiến độ phát triển cơ sở vật chất. Nguồn vốn 216 tạo
điều kiện chủ động về thời gian trong việc thực hiện các công tŕnh, không lệ
thuộc vào kế hoạch năm như trước.
- ĐHQG-HCM là đơn vị đi đầu triển khai “tự
chủ tài chính” theo NĐ 10 của Chính
phủ. Hiện nay có 13/17 đơn vị được giao quyền tự chủ, đang xây dựng quy chế
chi tiêu và phương án trích lập quỹ, trong đó, trường ĐH KHXH-NV được chọn làm
đơn vị trọng điểm để triển khai. Sơ kết, đánh giá cho thấy việc triển khai
thực hiện cơ chế này vẫn c̣n lúng túng.
5.2. Xây dựng cơ bản
Thực hiện chủ trương đẩy mạnh xây dựng tại
khu quy hoạch Thủ Đức – Dĩ An, trong thời gian qua chúng ta đă tập trung triển
khai xây dựng cơ bản tại khu này và đă đạt được những kết quả bước đầu, góp
phần tạo diện mạo chung cho ĐHQG-HCM, đó là :
- Thực hiện các bước chuẩn bị đầu tư, hoàn
thành quy hoạch chi tiết 1/2000 cho toàn khu ĐHQG-HCM và đă được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt (theo Quyết định 660/QĐ-TTg ngày 17/6/2003).
- Công tác tổ chức quản lư Dự án ngày càng
đi vào nề nếp, có phân cấp, phân công trách nhiệm cụ thể. Công tác quy hoạch,
lập dự án khả thi các công tŕnh được thể chế hóa thành quy tŕnh, quy chế.
- Quyết định và tổ chức cắm mốc giao 123 ha
đất cho các đơn vị để quản lư và chủ động tiến hành quy hoạch chi tiết và xây
dựng báo cáo khả thi, nhanh chóng khởi công xây dựng công tŕnh.
- Lập quy hoạch chi
tiết 1/500 khu Trung tâm điều hành, Khu trung tâm dịch vụ công cộng, Khu B KTX
và khu Nhà ở công vụ, làm cơ sở lập báo cáo khả thi các Dự án thành phần
QG-HCM-02 và QG-HCM-06. Tiến hành các bước nghiên cứu ban đầu Dự án trường Đại
học Quốc tế (QG-HCM-10); lập báo cáo khả thi Dự án hạ tầng kỹ thuật
- giao thông giai đoạn 1 (2003 - 2005).
- Cho đến thời điểm này, các công tŕnh Nhà
làm việc, Thư viện trung tâm, Khối A Nhà liên hợp thuộc Khu CNPM đang ở giai
đoạn hoàn thiện, chuẩn bị đưa vào sử dụng.
- Riêng công tác đền bù - giải phóng mặt
bằng - tái định cư gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp, làm chậm tiến độ triển
khai các Dự án. Tính đến tháng 9/2003, chỉ mới đền bù giải tỏa được 8,85 ha
đường vành đai, 214,75 ha khu mỏ đá Đông Hoà; 3,5 ha khu CNPM và 4,5 ha khu
trung tâm điều hành. Theo số liệu khảo sát đến thời điểm tháng 8/2003, tổng số
hộ dân c̣n trong khu quy hoạch là 1.147.
Nh́n chung, công tác xây dựng
cơ bản chưa đạt được như mong muốn, không ít công việc triển khai chậm, bị đẩy
lùi thời gian, tốc độ giải ngân chậm. Ngoài ra, một số công tŕnh bị đánh giá
là chưa đạt tính thẩm mỹ cao.
Nh́n lại năm học
2002-2003 chúng ta vui mừng trước những thành tựu đạt được, đó là : T́nh h́nh
tư tưởng chính trị trong các trường ổn định, CB-CC và HS-SV tin tưởng ở mô
h́nh ĐHQG sau khi được tổ chức lại và có Quy chế tổ chức và hoạt động, đoàn
kết nhất trí nhằm mục tiêu xây dựng ĐHQG-HCM lớn mạnh. Hoạt động đào tạo và
NCKH có chuyển biến bước đầu hướng đến nâng cao chất lượng và hiệu quả, đặc
biệt đội ngũ CB-CC được tăng thêm lực lượng trẻ nhiều triển vọng, nguồn lực
vật chất được tăng cường, uy tín của ĐHQG được khôi phục và khẳng định, có
thêm những điều kiện và tiền đề quan trọng, tạo ra được thế và lực mới cho
bước phát triển tiếp theo của ĐHQG-HCM.
Đạt được những thành tựu trên là do :
- Đảng ủy, Ban Giám đốc và lănh đạo các đơn
vị thành viên đoàn kết, kiên tŕ và quyết tâm thực hiện chủ trương xây dựng
ĐHQG. Sau khi được tổ chức lại đă xác định rơ mục tiêu, mũi đột phá, những
nhiệm vụ trọng điểm, có kế hoạch triển khai và chỉ đạo thực hiện một cách chủ
động, tích cực.
- CBCC tin tưởng và thống nhất cao với mục
tiêu xây dựng ĐHQG, có nhiều cố gắng trong giảng dạy, NCKH và cải tiến công
tác quản lư, hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần ổn định và phát triển
ĐHQG.
- HS-SV ĐHQG-HCM có phẩm chất chính trị, đạo
đức tốt, thông minh, năng động,... nếu được quan tâm và tổ chức tốt chắc chắn
các phong trào học tập, NCKH, rèn luyện và tham gia công tác xă hội của HS-SV
sẽ đạt được nhiều thành tựu cao hơn.
Bên cạnh đó chúng ta cũng nhận thấy rằng sự
phát triển của ĐHQG c̣n là sự phát triển về số lượng, chiều rộng, chưa chuyển
mạnh để phát triển về chất lượng, vào chiều sâu; nhiều mặt hoạt động tổ chức
triển khai thực hiện chậm; công tác tổ chức, vận hành của bộ máy quản lư c̣n
nhiều non kém, bất cập; mối quan hệ hợp tác giữa các tổ chức, các đơn vị thành
viên chưa thật sự gắn bó. Những mặt yếu kém đó cần được khắc phục để tạo ra
sức mạnh tổng hợp của mô h́nh đại học đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao.
x
x
x
Phần thứ hai
MỤC TIÊU,
NHIỆM VỤ NĂM HỌC 2003-2004
A. BỐI CẢNH T̀NH H̀NH : NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN
_________
I. Thuận lợi
- Dự báo t́nh
h́nh KT-XH khu vực phía Nam và cả nước sẽ có nhiều thuận lợi hơn trước. Kinh
tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ khá cao, chuyển dịch theo chiều hướng tích
cực.
- Đảng, Nhà nước tiếp tục có nhiều
chính sách ưu tiên đầu tư, khuyến khích GD-ĐT phát triển.
- Nhiều tỉnh thành, nhiều tổ chức,
đặc biệt là lănh đạo TP. HCM rất quan tâm gắn kết, hợp tác, giúp đỡ ĐHQG-HCM.
- ĐHQG-HCM sau 2 năm tổ chức lại
đă có những bước đi đúng hướng, thực hiện có hiệu quả nhiều chỉ tiêu, kế hoạch
từng năm, triển vọng có thể hoàn thành cơ bản nhiều chỉ tiêu nêu trong Chiến
lược trung hạn.
- Niềm tin, ư thức đoàn kết, quyết
tâm thực hiện mục tiêu chung xây dựng ĐHQG-HCM được củng cố và nâng lên. Đầu
tư cho các hoạt động của ĐHQG-HCM từ nguồn ngân sách nhà nước, đặc biệt là đầu
tư xây dựng cơ bản tiếp tục có những thuận lợi.
II. Khó khăn
- So với yêu cầu của sự phát
triển, điều kiện để nâng cao chất lượng đào tạo có được cải thiện, nhưng vẫn
c̣n nhiều hạn chế.
- Đội ngũ CBGD trong các năm qua
phát triển nhanh về số lượng, nhưng cơ cấu và tŕnh độ vẫn c̣n rất bất cập so
với mục tiêu đề ra. Một bộ phận CB-CC vẫn c̣n bận nhiều việc bên ngoài (kể cả
việc dành quá nhiều giờ cho đào tạo các trường ngoài ĐHQG) dẫn đến hạn chế
việc hoàn thành khối lượng, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc được
giao.
- Yêu cầu chuyển biến rơ nét chất
lượng đào tạo để sánh với các ĐH có uy tín trong khu vực và thế giới vẫn là
một thách thức lớn nhất trong mục tiêu phát triển. Yêu cầu này đang đặt ra cho
chúng ta cần có thêm một loạt các giải pháp khả thi, đủ mạnh để tạo ra sự
chuyển biến rơ nét t́nh h́nh.
x
x
x
B. MỤC TIÊU,
NHIỆM VỤ NĂM HỌC 2003 - 2004
____________
I. MỤC TIÊU
- Năm học 2003-2004 là năm học
toàn ĐHQG-HCM triển khai đồng loạt cả 3 mũi đột phá của chiến lược phát triển
sau khi đă tổ chức thành công các Hội nghị chuyên đề tương ứng; cũng là năm
toàn thể BGĐ, khối Cơ quan Văn pḥng chuyển lên làm việc tại khu xây dựng mới
tại Thủ Đức – Dĩ An.
- Đây cũng là năm bản lề thực hiện
chiến lược phát triển ĐHQG-HCM giai đoạn 2001-2005.
- Mục tiêu cơ bản là : Chuyển mạnh
từ giữ ổn định, tạo tiền đề và điều kiện để phát triển sang mục tiêu phát
triển nhanh và bền vững, đi vào chiều sâu, đặc biệt là các hoạt động của 3 mũi
đột phá; tạo dựng phong trào, khí thế trong phát triển đội ngũ, xây dựng cơ
bản và nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện.
- Tiến hành sơ kết nửa chặng đường
thực hiện Chiến lược trung hạn, bổ sung thêm những giải pháp, đảm bảo hoàn
thành tốt các chỉ tiêu, kế hoạch ở các năm c̣n lại; đồng thời sớm h́nh thành
khung ư tưởng hướng đến kế hoạch chiến lược giai đoạn kế tiếp.
II. NHIỆM VỤ
CỤ THỂ
1. Công tác
chính trị - tư tưởng
- Qua kết
quả các mặt hoạt động, đặc biệt là từ kết quả đạt được ở 3 mũi đột phá, tăng
cường, củng cố thêm một bước niềm tin, ḷng tự hào cũng như ư thức trách nhiệm
của mỗi CB-CC, HS-SV, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
- Tăng cường vai tṛ lănh đạo toàn
diện của các tổ chức Đảng; tính năng động nhạy bén trong công tác điều hành,
chỉ đạo của chính quyền; sự phối hợp nhịp nhàng của các tổ chức đoàn thể trong
mọi mặt hoạt động.
- Tăng cường sự đoàn kết, thống
nhất ư chí, đẩy mạnh thông tin hai chiều, thực hiện tốt quy chế dân chủ trong
trường học; tổ chức tốt Hội nghị CB-CC ở tất cả các đơn vị từ những tháng đầu
năm học mới, đẩy mạnh các hoạt động Đoàn, Hội Sinh viên, tạo điều kiện để có
nhiều CB-CC, HS-SV được đứng vào hàng ngũ Đảng, tổ chức Đoàn TNCS.
2. Công tác
tổ chức - cán bộ
- Tất cả các đơn vị, cá nhân trong
ĐHQG-HCM đều ra sức phấn đấu thực hiện tốt đề án xây dựng đội ngũ CB-CC đă
được duyệt cho từng đơn vị, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cũng như có kế hoạch
tiếp nhận cán bộ ở nơi khác về, áp dụng thành công các quy định về ưu đăi, thu
hút cán bộ đă được ban hành, quyết tâm tạo chuyển biến rơ nét trong xây dựng
và phát triển đội ngũ.
- Bổ sung, tuyển vào biên chế từ
100 - 150 cán bộ để tăng cường cho các đơn vị, nhất là các đơn vị mới thành
lập.
- Phấn đấu vượt chỉ tiêu số lượng
cán bộ được phong GS, PGS đă nêu trong chiến lược. Tăng số lượng cán bộ có học
vị tiến sĩ từ 405 người đầu năm học lên trên 450 người vào cuối năm học.
- Đưa trường ĐH Quốc tế vào hoạt
động, mở các lớp học đầu tiên vào năm học 2004-2005. Đồng thời xem xét để có
thể h́nh thành thêm các tổ chức mới theo kế hoạch Chiến lược trung hạn.
- Xây dựng và ban hành các văn bản
:
(1)
Quản lư, điều động,
luân chuyển CB-CC trong ĐHQG-HCM;
(2)
Quy định chức năng,
nhiệm vụ và chế độ làm việc của VP, các Ban chức năng của ĐHQG.
3. Công tác
chuyên môn
Năm nay,
thực hiện “Mũi đột phá thứ 3”, ĐHQG-HCM tập trung chỉ đạo, tạo bước chuyển
mạnh về chất lượng đào tạo với các nhiệm vụ, kế hoạch cụ thể sau :
- Tất cả cá nhân, tập thể thống
nhất nhận thức sâu hơn, đầy đủ hơn vai tṛ quyết định của đội ngũ CBGD đối với
vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo. Có những giải pháp mạnh mẽ phát huy tốt
nhất tính tích cực, khả năng sáng tạo của CBGD.
- Tăng cường vai tṛ rất quan
trọng của Bộ môn – nơi trực tiếp triển khai lịch tŕnh giảng dạy, học tập; nơi
xuất phát các nội dung đổi mới chương tŕnh, phương pháp giảng dạy; nơi quản
lư, đôn đốc, làm việc tập thể để nâng cao chất lượng đào tạo.
- Đặt yêu cầu cao về kế hoạch hoạt
động của tất cả CBGD, cán bộ nghiên cứu cho từng học kỳ, từng năm như đă nêu
trong nội dung bản báo cáo tại Hội nghị chuyên đề mũi đột phá thứ 3.
- Mỗi CBGD dành ít nhất 30% quỹ
thời gian làm việc trong năm cho NCKH.
- Bộ môn bố trí sinh hoạt học
thuật chuyên môn hàng tháng, hàng quí. Khôi phục h́nh thức dự giờ góp ư giúp
đỡ CB trẻ mới lên lớp.
- Triển khai từng bước việc bố trí
văn pḥng sinh hoạt cho các tổ bộ môn; chỗ làm việc riêng cho GS, PGS, TSKH.
- Tổ chức biên soạn và ban hành
các văn bản pháp qui về đổi mới nội dung, chương tŕnh đào tạo, thể hiện sự
đổi mới tích cực, triệt để, bao gồm Quy định về kết cấu chương tŕnh, khối
kiến thức và các môn học bắt buộc, các môn tự chọn, sử dụng tài liệu nước
ngoài trong việc xây dựng chương tŕnh đào tạo, Quy định về ban hành chương
tŕnh đào tạo và Quy chế sử dụng tài liệu giáo tŕnh nước ngoài.
- Tiếp tục hoàn thiện phương thức
đào tạo theo học chế tín chỉ ở bậc đại học tại 2 trường ĐH Bách Khoa
và ĐH KHTN và bước đầu triển khai tại trường ĐH KHXHNV và Khoa Kinh tế. Song
song đó, nghiên cứu triển khai phương thức đào tạo này cho đào tạo SĐH, tiến
tới đào tạo theo hệ thống tín chỉ thống nhất trong toàn ĐHQG-HCM vào những năm
2004, 2005.
- Tăng cường
quản lư, đầu tư phát triển chương tŕnh CN-KS tài năng, nghiên cứu mở
rộng thêm các ngành đào tạo mới. Tổ chức thực hiện thí điểm việc giảng dạy
chuyên môn bằng tiếng Anh ở một số môn học của một số ngành đào tạo.
- Hoàn thiện hệ thống tiêu chí về
đánh giá - kiểm định chất lượng đào tạo. Thực hiện thí điểm việc kiểm định -
đánh giá chất lượng đào tạo đại học tại một số ngành ở mỗi trường. Sau ĐH
KHXH-NV, sẽ tiếp tục triển khai công tác kiểm định - đánh giá điều kiện đảm
bảo chất lượng đào tạo SĐH ít nhất ở hai cơ sở đào tạo khác trong
ĐHQG-HCM.
- Triển khai, cụ thể hóa các đề
án và chương tŕnh về SĐH đă được xây dựng trong năm học 2002-2003; phát triển
các chương tŕnh liên kết với nước ngoài đào tạo SĐH ở các cơ sở đào tạo, đẩy
mạnh phương thức đào tạo đồng hướng dẫn; xây dựng chế độ tài chính mới cho
công tác đào tạo SĐH, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cả người dạy và người
học.
4. Khoa học
công nghệ - Quan hệ hợp tác
4.1. Khoa học công nghệ
Phát huy
thành tích năm qua, các đơn vị tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ thuộc các
chương tŕnh KHCN trọng điểm cấp NN đă thực hiện từ năm 2003, đồng thời có kế
hoạch tham gia tuyển chọn năm 2004. Tích cực đăng kư và tham gia chương tŕnh
nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực KHTN và KHXH-NV. Triển khai tốt các đề tài
độc lập cấp NN hiện có và đăng kư mới 1-2 đề tài. Nghiệm thu 3 dự án sản xuất
thử độc lập cấp NN đồng thời đăng kư thêm 1-2 dự án mới.
Tiếp tục thực
hiện 36 đề tài NCKH trọng điểm ĐHQG-HCM; tuyển chọn bổ sung và triển khai thực
hiện 5-10 đề tài trọng điểm cấp Bộ với định hướng chọn các đề tài phục vụ
thiết thực phát triển KT-XH trên địa bàn Thành phố và các tỉnh phía Nam, đồng
thời, tạo điều kiện thuận lợi để các Trung tâm thực hiện tốt công tác nghiên
cứu triển khai ứng dụng, đưa tiến bộ kỹ thuật vào thực tế sản xuất.
Tổ chức đánh
giá hiệu quả đầu tư và quy hoạch lại các PTN đă triển khai của ĐHQG-HCM. Tăng
tốc độ xây dựng hạ tầng NCKH, tiếp tục tăng cường trang thiết bị cho các PTN,
đặc biệt, triển khai đưa vào hoạt động có hiệu quả hai PTN trọng điểm quốc gia
đă được phê duyệt và đẩy mạnh việc triển khai hoạt động Khu công nghệ phần mềm
ĐHQG-HCM.
Phấn đấu để
năm 2004 đạt chỉ tiêu kinh phí KHCN tăng 20% so với năm 2003 cho ĐHQG-HCM;
tăng 20% doanh thu từ hoạt động KHCN.
Về thông
tin KHCN,
kiện toàn Ban biên tập Tạp chí phát triển KHCN của ĐHQG-HCM, có biện
pháp nâng cao chất lượng các công tŕnh, bài báo đăng tải, rút ngắn thời gian
chờ đăng; cải tiến h́nh thức tạp chí.
4.2. Quan hệ quốc tế
Trên cơ sở
Chiến lược quan hệ quốc tế của ĐHQG-HCM, các Trường, Viện thành viên và các
đơn vị trực thuộc duy tŕ củng cố các mối quan hệ đă có, xây dựng kế hoạch mở
rộng hợp tác với các đối tác mới.
Các đơn vị củng cố và phát triển các
chương tŕnh liên kết đào tạo và nghiên cứu khoa học với nước ngoài, tăng
cường các hợp tác trao đổi cán bộ, sinh viên; tham gia các dự án quốc tế để
tăng cường nguồn lực; t́m kiếm các nguồn tài trợ, học bổng để hỗ trợ cán bộ,
sinh viên đi học, thực tập ở nước ngoài.
Tăng cường tổ chức các Hội
nghị, Hội thảo khoa học, lớp học quốc tế nhằm mục đích mở rộng giao lưu, tiếp
cận, học hỏi với các nhà khoa học, các nhà quản lư giáo dục giỏi của thế giới.
ĐHQG-HCM phối hợp với các trường và các đơn vị để triển khai các nội
dung kư kết hỗ trợ
ĐHQG Lào, bao gồm phát triển đội
ngũ, trao đổi cán bộ, sinh viên, hợp tác nghiên cứu, trao đổi tài liệu học
thuật.
Trường Đại học Quốc tế nhanh chóng
thiết lập quan hệ với các đối tác có uy tín nước ngoài để kư kết các chương
tŕnh hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học; lập kế hoạch mời các chuyên gia,
giáo sư giỏi để xây dựng chương tŕnh đào tạo, tham gia giảng dạy.
4.3. Hợp tác trong nước
Tiếp tục triển khai mạnh các chương tŕnh
hợp tác với Thành phố và Khu công nghệ cao về phát triển KHCN, đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao. Phát huy vai tṛ Hội đồng
Đại học thành phố trong việc thực hiện các chương tŕnh lớn cần có sự chung
sức của các trường đại học, tăng cường quan hệ với các khu chế xuất - khu
công nghiệp.
Thực hiện các thoả thuận hợp tác giữa hai
ĐHQG, tăng cường các hoạt động chung với mục tiêu
cùng nhau hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và sứ mạng vinh quang đă được giao phó.
Có biện pháp nâng cao
hiệu quả việc triển khai nội dung của các văn bản thoả thuận hợp tác đào tạo
nguồn nhân lực với các tỉnh B́nh Dương, Tây Ninh,...
5. Tài chính – Cơ sở vật
chất
5.1. Kế hoạch - Tài chính
Mục tiêu tổng quát công tác KH-TC của
ĐHQG-HCM trong năm tới là tiếp tục cải tiến
công tác quản lư KH-TC theo luật NSNN 2002 và các văn bản pháp quy hiện hành,
đồng thời tiếp tục triển khai cơ chế tự chủ tài chính theo NĐ 10. Mục tiêu
tổng quát trên được thể hiện qua những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Ban KH-TC chủ động phối hợp chặt chẽ với
các ban chức năng và các đơn vị xây dựng kế hoạch năm chính xác, thuyết phục,
khả thi, đảm bảo tốt kinh phí hoạt động cho toàn
ĐHQG, tăng không dưới 15%/năm.
- Tổ chức tổng kết rút
kinh nghiệm việc thực hiện NĐ 10 đối với các đơn vị đă được giao quyền tự chủ
tài chính; bắt đầu triển khai áp dụng chi tiêu theo cơ chế này ở một số đơn
vị, song song đó có kế hoạch mở rộng đến các đơn vị khác.
- T́m kiếm nguồn tài chính và cách thức giải
ngân cho các đề án mang tính đặc thù của
ĐHQG-HCM
và cần kinh phí lớn như :
Đề án xây dựng đội ngũ
ĐHQG-HCM,
Đề án tin học hóa, Quy định
về chế độ ưu đăi và thu hút nguồn lực về ĐHQG-HCM…
- Đề nghị Chính phủ cho
ĐHQG-HCM thu học phí cao hơn so với hiện nay để tăng cường cơ sở vật chất,
trang thiết bị và các hoạt động khác nhằm đảm bảo mục tiêu nâng cao chất lượng
đào tạo.
5.2. Xây dựng cơ bản
Trên cơ sở chiến lược phát triển
ĐHQG-HCM và t́nh h́nh thực tế, mục tiêu tổng
quát của công tác XDCB năm 2003-2004 là :
Tập trung chỉ đạo, phân cấp mạnh,
phối hợp chặt chẽ, tạo bước nhảy vọt trong công tác XDCB với trọng tâm là công
tác đền bù - giải phóng mặt bằng - tái định cư hoàn thành các bước chuẩn bị
đầu tư 12 Dự án thành phần, nhanh chóng khởi công các công tŕnh trọng điểm
của các đơn vị, quyết tâm đạt các mục tiêu trong mũi đột phá về xây dựng cơ sở
vật chất.
Công tác triển khai Dự án xây dựng ĐHQG-HCM
đă bước vào giai đoạn mới, đ̣i hỏi sự quyết tâm và nỗ lực lớn của ĐHQG và của
các đơn vị. Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, toàn
ĐHQG-HCM, trong năm tới, sẽ
triển khai mạnh
các đầu việc lớn sau đây :
- Phối hợp chặt chẽ với địa phương, phát huy
vai tṛ của Ban chỉ đạo giải phóng mặt bằng – an ninh trật tự, quyết tâm thực
hiện bằng được công tác đền bù - giải phóng mặt bằng - tái định cư trong phạm
vi toàn khu và tổ chức tốt việc quản lư đất đai chống lấn chiếm.
- Khẩn trương hoàn thành các thủ tục để khởi
công xây dựng các công tŕnh: Quảng trường khu Trung tâm, các khối nhà B,C,D,
E - khu CNPM; bốn đơn nguyên KTX - khu A, trong đó ba đơn nguyên do các tỉnh
đầu tư; một đơn nguyên khu KTX khu B và một đơn nguyên Nhà công vụ.
-
Tập
trung chỉ đạo quyết liệt để các công tŕnh trọng điểm của các đơn vị: trường
ĐH Bách Khoa, trường ĐH KHTN, trường ĐH KHXH&NV, Khoa Kinh tế, Trung tâm GDQP
và Viện MT-TN được khởi công sớm. Triển khai Dự án hạ tầng kỹ thuật - giao
thông giai đoạn 1, trước mắt xây dựng một số tuyến trục giao thông và hạ tầng
kỹ thuật chung.
- Riêng ở nội thành, các đơn vị
thành viên cần tập trung để sớm đưa các công tŕnh cải tạo, nâng cấp Nhà B4,
Nhà khoa Hóa và Nhà D2 vào sử dụng. Khởi công xây dựng KTX Hoà Hảo để đáp ứng
nhu cầu về chỗ ở ngày càng tăng của sinh viên ở nội thành.
Nhằm đảm bảo các nhiệm vụ
trên được hoàn thành đúng tiến độ với chất lượng cao, những giải pháp sau đây
cần được triển khai đồng bộ :
Một là,
tranh thủ sự hỗ trợ mọi mặt của Trung ương,
của lănh đạo tỉnh thành và chính quyền địa phương nơi
ĐHQG-HCM trú đóng về chủ trương, vốn, đặc
biệt là trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định cư.
Hai là,
nâng cao tính trách nhiệm, chủ động của các đơn vị chủ đầu tư, các ban Quản lư
dự án của các đơn vị.
Ba là,
thực hiện đồng bộ các thủ tục đầu tư, đảm
bảo tính pháp lư, đàm bảo tiến tŕnh đầu tư theo kế hoạch.
5.3. Tăng cường
trang thiết bị, pḥng thí nghiệm, thư viện, mạng thông tin.
- Tăng cường năng lực hoạt động của các
pḥng thí nghiệm hiện có, thay thế dần các trang thiết bị lạc hậu bằng các
trang thiết bị hiện đại, xây dựng thêm các pḥng thí nghiệm mới đáp ứng yêu
cầu nâng cao chất lượng đào tạo.
- Đưa Thư viện trung tâm ĐHQG-HCM vào hoạt
động. Tăng gấp 2 lần khả năng phục vụ của hệ thống Thư viện trong
ĐHQG-HCM bằng việc tăng cường cơ sở vật
chất, trang thiết bị hiện đại, ứng dụng CNTT vào công tác quản lư Thư viện, bổ
sung cơ sở dữ liệu, nối mạng với bên ngoài,….
- Tăng cường công tác biên soạn in ấn, xuất
bản nhằm đảm bảo có đủ giáo tŕnh, tài liệu tham khảo cho sinh viên giai đoạn
cơ bản, đồng thời đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của sinh viên giai đoạn
chuyên ngành và sau đại học.
- Với mục tiêu tin học hóa 100 % công tác
quản lư ĐHQG-HCM vào năm 2005, năm học 2003-2004 sẽ
thực hiện những đầu việc chủ yếu dưới đây:
+ Tiếp tục triển khai chương tŕnh tin học
hóa công tác quản lư nhân sự, văn bản, đào tạo đại học, SĐH và Kế toán – tài
chính theo Đề án Chương tŕnh tin học hóa công tác quản lư
ĐHQG-HCM đă được Giám đốc ĐHQG-HCM phê
duyệt; hoàn chỉnh Đề án xây dựng Trung tâm dữ liệu
theo chương tŕnh 112 của Chính phủ tŕnh cấp trên phê duyệt và đưa vào triển
khai.
+ Đưa hệ thống mạng cáp quang
nội thành vào phục vụ, triển khai các ứng dụng và các dịch vụ trên mạng; tăng
băng thông ra internet lên gấp 3 lần so với hiện nay, mở thêm đường truyền
internet để tăng tính cạnh tranh trong phục vụ và bảo đảm điều kiện dự pḥng.
Ngoài ra, ĐHQG-HCM sẽ triển khai sử dụng thể nghiệm dịch vụ truy cập nhanh
ADSL.
+ Xây dựng hệ thống cáp quang
nối hệ thống mạng nội thành với hệ thống mạng của khu mới ĐHQG-HCM và lập đề
án thiết kế tổng thể hạ tầng mạng tin học và viễn thông, hệ thống tổng đài,
điện thoại cho toàn khu.
+ Xem xét việc cấp địa chỉ email cho
từng sinh viên, thống nhất sử dụng thẻ từ cùng định dạng cho toàn thể
sinh viên ĐHQG-HCM có thể dùng cho tất cả các dịch vụ trong trường.
5.4. Công tác phục vụ, dịch vụ
Từ năm học 2003-2004, hoạt động của ĐHQG và
của các đơn vị bắt đầu chuyển mạnh lên cơ sở mới, do đó cần tổ chức tốt việc
đưa rước CBCC, sinh viên giữa nội thành và khu mới; tổ chức tốt các dịch vụ ăn
uống, sinh hoạt và các dịch vụ khác như ngân hàng,
trạm bưu điện, nhà sách, cửa hàng, siêu thị,…theo định hướng ĐHQG-HCM sẽ là
một trung tâm đô thị đại học lớn trong tương lai.
*